- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lưu Quang Tr - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2021/HSST Ngày: 18/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Xuân Hùng
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Dung và ông Trần Lộc
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2021/HSST ngày 03 tháng 03 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2021/QĐXXST-QĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Quang Tr; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/4/1975 tại xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm 1, xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên cha: Lưu H (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1950; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1979; Con: có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2020 đến ngày 13/01/2021 được hủy bỏ biện pháp tạm giam, áp dụng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 13/01/2021 đến ngày 09/3/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
1. Anh Đặng Văn B, sinh năm 1985
Trú tại: xóm 2, xã DĐ, huyện D, tỉnh Nghệ An (đã chết)
Những người đại diện hợp pháp của anh Đặng Văn B:
Ông Đặng Minh Th, sinh 1956, bà Hoàng Thị Ph, sinh năm 1955 và Chị Bùi Thị Q, sinh năm 1991
Đều trú tại: xóm 2, xã DĐ, huyện D, tỉnh Nghệ An
(Ông Th và bà Ph ủy quyền lại cho chị Bùi Thị Q tại Giấy ủy quyền lập ngày 01/12/2020) (vắng mặt);
2. Anh Đàm Văn D, sinh năm 1998
Trú tại: xóm 8, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1979
Trú tại: xóm 1, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
1. Ông Đàm Văn L, sinh năm 1967
Trú tại: xóm 8, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
- Người làm chứng:
1. Cao Khắc H, sinh năm 1975
Trú tại: xóm 8, xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt);
2. Đoàn Văn Nh, sinh năm 1981
Trú tại: xóm 1, xã DA, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
3. Nguyễn Đình T, sinh năm 1974
Trú tại: xóm 2, xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/11/2020, Lưu Quang Tr có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, biển kiểm soát 37A-522.44 đi từ xã DT, huyện D về xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (hướng Bắc - Nam) ở phần đường phía Tây trên Quốc lộ 1A. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, ông Lưu Quang Tr điều khiển xe đi đến km 435+450 m, Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã DA, huyện D, tỉnh Nghệ An, khi đang cho xe di chuyển trên làn đường thứ hai (tính từ dải phân cách ra), do không giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước nên xe do Tr điều khiển đã đâm vào phía sau xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 37U1-6094 do anh Đặng Văn B, sinh năm 1985, trú tại xóm 2, xã DĐ, huyện D, tỉnh Nghệ An điều khiển đang đi cùng chiều phía trước của xe ô tô Tr và đang đi trên làn đường dành cho xe cơ giới (làn đường thứ hai tính từ dải phân cách ra). Sau tai nạn do bị va chạm mạnh nên xe Tr điều khiển không làm chủ được tay lái và xe bị nổ lốp và bung túi khí trượt theo quán tính trên đường Quốc lộ nên tiếp tục va chạm với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA mang biển kiểm soát 37L2-247.92 do anh Đàm Văn D, sinh năm 1998, trú tại xóm 8, xã NS, huyện Q, tỉnh Nghệ An điều khiển đang di chuyển cùng chiều trên làn đường thứ hai (tính từ dải phân cách ra). Hậu quả: anh Đặng Văn B chết tại chỗ, anh Đàm Văn D bị thương nhẹ, hai xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng. Sau khi xảy ra tai nạn ông Lưu Quang Tr gọi taxi đưa anh D đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa 115 tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Lưu Quang Tr đến Cơ quan CSĐT Công an huyện D đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã thành lập Hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ; kết quả như sau:
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 16 giờ 23 phút, ngày 10/11/2020, tại km 435+ 450 m, Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã DA, huyện D, tỉnh Nghệ An, thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn giao thông còn nguyên vẹn, người chết tại chỗ, người bị thương đã được đưa đi cấp cứu. Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông, mặt đường được rải thảm nhựa tương đối bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, ở giữa có kẻ vạch sơn đứt quãng, phân chia phần đường thành hai chiều xe chạy, mặt đường rộng 10,8m. Hai bên hành lang đường là khu dân cư sinh sống.
Hội đồng khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông thống nhất lấy cột mốc Km H5/435 làm mốc xác định và mép đường nhựa phía Tây (mép đường bên phải theo chiều đi từ thành phố H đi thành phố V) làm mép đường chuẩn để tiến hành đo đạc khám nghiệm hiện trường, đơn vị đo là m (mét) để khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn, đánh dấu vị trí phương tiện theo số từ 01 đến 09.
* Mô tả hiện trường:
- (01) Vết phanh xe ô tô (vết phanh đơn) có điểm đầu cách mốc về hướng Bắc 27 m, nằm ở chiều đường phía Tây ở làn đường giữa và cách mép đường chuẩn 2,4 m, vết có chiều hướng Bắc Nam, hơi chếch về Tây.
- (02) Vết cày xước mặt đường nhựa có cùng chiều hướng và chạy gần như song song với vết (1) cách mép đường chuẩn 2,2 m và cách điểm đầu vết (1) về hướng Nam 1,3 m.
- (03) Tử thi Đặng Văn B được phát hiện nằm ngoài rào hộ lan, tử thi phát hiện trong tư thế nằm sấp, đầu hướng Nam, hai chân hướng Bắc, đầu và chân cách mép đường chuẩn lần lượt là 1,4 và 1,2 m. Từ tử thi đến điểm đầu vết (1) là 30 m.
- (04) Xe mô tô 37U1-6094 được phát hiện ở chiều đường phía Đông, xe nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng Đông đuôi xe hướng Tây. Từ trục trước, trục sau xe mô tô đến dải phân cách lần lượt là 4,5 và 3,4 m.
- (05) Vết cày xước mặt đường nhựa, từ vị trí xe (04) (giá để chân trước bên phải) vòng về hướng Tây Bắc qua khoảng mở dải phân cách đến phía trước ngoài vị trí tử thi, vết không liên tục có chiều dài (đo vuông góc) là 79,5 m.
- (06) Vết trượt hai bánh xe ô tô, từ vị trí ở làn đường giữa cách vị trí xe (4) 287 m, có hai vết trượt bánh xe hướng Tây Nam (từ ngoài vào rào hộ lan) sau đó trượt tiếp ra hướng Đông Nam đến vị trí xe ô tô (07), hai vết này cách nhau 2,7 m.
- (07) Xe ô tô 37A-522.44 phát hiện ở chiều đường phía Tây, đầu xe hướng Tây chếch về Bắc, đuôi xe hướng Đông chếch về Nam, từ tâm trục bánh trước bên phải, bên trái đến mép đường chuẩn lần lượt là 1,3 m và 1,2 m và đến vị trí xe ô tô (04) là 312 m.
- (08) Xe mô tô 37L2-247.92 nằm ở chiều đường phía Tây, đầu xe hướng Nam chếch về Tây đuôi xe hướng Bắc chếch về Đông, trục bánh trước nằm trên mép đường chuẩn, trục bánh sau cách mép đường chuẩn 0,9 m và cách bánh trước bên trái xe ô tô (07) là 8,1 m.
- (09) Vết cày xước mặt đường nhựa do xe mô tô (08) để lại có hai đoạn (01) ở giữa xe (07) và xe (08) dài 4,7 m, từ vị trí bàn đạp cần phanh về hướng Bắc ra mép đường nhựa. Đoạn (02) cách vị trí xe ô tô về phía Bắc 50 m nằm ở giữa hai vết trượt bánh lốp xe ô tô (06) có điểm đầu cách mép đường nhựa chuẩn 02 m dấu vết này kéo dài theo vết trượt chuầy hai bánh xe ô tô.
- Từ vị trí điểm đầu vết (01), (02) đến vết (03), (04) dọc theo (05) có nhiều mảnh vỡ kính, nhựa các bộ phận xe mô tô, ô tô ở vị trí phát hiện tử thi, vị trí chuầy trượt hai bánh xe ô tô ra lề đường trên dải hộ lan bị trượt mài thanh nằm ngang (tôn sáng) và các miếng phản quang gắn ở hộ lan. (Bút lục: 51 đến 54).
* Tại biên bản khám nghiệm xe liên quan thể hiện:
* Xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44, loại xe ô tô con, nhãn hiệu Mazda 3, màu sơn trắng.
- Phía bên trái Ba đờ xốc trước có vùng dấu vết trượt xước mài mòn rách thủng nhựa theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, kích thước toàn bộ vùng dấu vết này là (90x40) cm, trên bề mặt bám dính bụi đất bẩn.
+ Vỡ kính đèn chiếu sáng, đèn gầm phía bên phải.
+ Phía trước mũi nắp ca bô và ốp nhựa phía dưới trước nắp ca bô có vùng dấu vết trượt xước bám dính bụi đất, kích thước (98x16) cm.
+ Ốp viền phía trên, giữ ba đờ xốc trước bị gãy đứt rời một khoảng dài 90 cm.
+ Phía trước bên phải đầu xe kéo dài từ ba đờ xốc về phía sau là 90 cm từ dưới lên đến nắp ca bô có vùng dấu vết trượt xước nứt, vỡ, đứt, gãy, móp lõm cong queo các bộ phận của xe kích thước (90x60) cm vùng dấu vết này có chiều hướng từ trước ra sau làm vỡ hoàn toàn hệ thống đèn, bình nước rửa kính, đứt gãy rách thủng ba đờ xốc, cong queo móp méo tai ba đờ xốc, nắp ca bô, đẩy nắp ca bô cong ngược lên trên về phía sau, trên bề mặt bám dính nhiều mạt chất màu đen, chất màu đỏ (dạng máu đông khô), bánh trước bên phải bị nổ hết hơi, vành bánh bị xước mài mòn.
+ Phía bên phải xe kéo dài từ tai ba đờ xốc đến hết phía sau phần thân xe có vùng dấu vết trượt xước, móp lõm, mài mòn sơn, kim loại theo chiều hướng trước ra sau, vết có dạng hình thành 02 rãnh sâu cách nhau 20 cm, vết phía trên, cao cách mặt đất 77 cm.
+ Gãy vỡ gương chiếu hậu bên trái và bên phải.
+ Phía sau bên trái xe, từ vị trí tiếp giáp với cánh cửa sau về phía sau đến hết đèn hậu có vùng dấu vết trượt xước móp lõm làm vỡ hệ thống đèn hậu, đèn xin đường, tụt đít rơi ba đờ xốc kích thước (95x40) cm, dấu vết có chiều hướng từ sau ra trước, trái sang phải.
+ Nổ 02 túi khí phía trước và các túi khí phía bên phải.
+ Mặt lăn và thành lốp của cả bốn bánh xe có nhiều dấu vết trượt xước sáng cao su, có chỗ bám dính bụi đất, cây cỏ không liên tục.
- Xe bị hư hỏng sau tai nạn không kiểm tra được.
* Xe mô tô biển kiểm soát 37U1-6094, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu sơn đen.
+ Phía sau xe từ yên xe xuống đến vành bánh, các bộ phận của xe bị gãy vỡ, dập nát và bị đẩy cong ngược theo chiều hướng từ sau ra trước, từ dưới lên trên hơi chếch từ phải sang trái, vùng dấu vết này làm vành bị gãy cong gập, hệ thống đuôi xe, chắn bùn, hệ thống đèn bị gãy vỡ, biển số xe bị đẩy mắc kẹt nằm ở giữa 02 giảm xóc sau, khung đuôi xe, bình nhiên liệu, giá nâng xe bị trượt xước, móp lõm cong gập lên trên.
+ Ống xả và ốp cách nhiệt bị đẩy cong sang phải (ra ngoài), đầu cuối ống xả bị móp lõm cong gập về phía trước (vào trong), càng kim loại bắt cố định ống xả phía sau (càng giá để chân sau bị đứt gãy).
+ Mặt lăn của bánh sau và thành lốp phía bên trái bị trượt mòn, sáng cao su, sạch bụi đất bám, đứt tụt nhiều chân nan hoa.
+ Toàn bộ hệ thống đèn đồng hồ, công tơ mét, ống nhựa gắn ở tay lái bị gãy vỡ.
+ Phần giữa tay lái, phía ngoài bên trái tay lái, ốp nhựa phía bên trái xe bị
trượt mài mòn bám dính bụi đất đá màu trắng.
+ Bọc cao su giá để chân phía trước bên phải và bên trái bị tụt rơi khỏi xe,
càng và giá để chân sau bên trái bị đứt ròi khỏi xe.
+ Ốp nhựa thân xe bên trái bám dính chất màu đỏ dạng máu đã khô.
- Xe bị hư hỏng sau tai nạn không kiểm tra được.
* Dấu vết để lại trên xe mô tô biển kiểm soát 37L2-247.92, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn đen cam.
+ Bánh sau bị hết hơi, mặt lăn của bánh có vị trí bị trượt mòn sáng cao su, bám dính chất màu trắng kích thước (27x10) cm, thành vành phía bên phải vị trí đối diện dấu vết trên bị cong móp theo hướng từ ngoài vào tâm trục kích thước (15x1,4) cm, thành vành phía bên trái nhiều vị trí bị trượt xước bám mạt chất màu trắng.
+ Biển số xe bị đẩy tụt hai đinh ốc, cong về trước, trên bề mặt có dấu vết trượt xước và bị lật sấp xuống phía dưới.
+ Phía dưới (mặt dưới) phía bên phải đuôi xe, đèn hậu, giá nâng xe có vùng dấu vết trượt xước bám mạt chất màu trắng không liên tục trên diện, có kích thước (14x07) cm.
+ Đinh ốc tăng giảm xích (bên trái) bị đẩy theo chiều hướng từ sau ra trước, dưới lên trên.
+ Thành kim loại bắt cố định chắn bùn phía bên trái có các vết trượt xước bám dính chất màu trắng không liên tục kích thước (26x07) cm.
+ Cánh yếm bên trái bị bật bung ra ngoài.
- Phía bên phải xe gồm: Cánh yếm, tay lái ốp nhựa phía trên đèn chiếu sáng, mặt ngoài ống xả, giá nâng xe bị trượt mài mòn bám dính bụi đất, gãy đứt rời tay phanh, đầu ngoài tay lái, gãy cánh yếm, giá bắt cánh yếm, gãy giá để chân trước.
+ Thành lốp trước và lốp sau bên trái bám dính nhiều bùn đất.
- Xe bị hư hỏng sau tai nạn không kiểm tra được hệ thống phanh, đèn, còi.
- Sau tai nạn anh Đặng Văn B chết tại chỗ, anh Đàm Văn D được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An.
* Kết quả khám nghiệm tử thi anh Đặng Văn B.
+ Vùng đầu bên phải, cách sau trên đỉnh vành tai phải 06 cm, cách trên đường chân tóc gáy 11 cm có một vùng sưng phù nề, bầm tụ máu kích thước (16x14) cm. Trên vùng này có một vết thương kích thước (06 x 1,3) cm.
+ Ngay môi dưới và cằm bị biến dạng xây xát rách da bầm tụ máu không liên tục kích thước (11x10) cm. Trên vùng này có hai vết thương, vết (01) nằm ngay sát dưới mép miệng phải kích thước (04x1,5) cm, vết (02) cách dưới mép miệng trái 3,5 cm, cách dưới trước dái tai trái 10 cm kích thước (4,5x1,3) cm. Tương ứng vùng này là điểm gãy xương hàm dưới.
+ Ngay hõm nách phải có một vết thương kích thước (15x4,5) cm.
+ 1/3 giữa trước cánh tay phải cách thẳng dưới mõm vai phải 17 cm có một vùng sưng phù nề, bầm tụ máu kích thước (11x20) cm. Tương ứng là điểm gãy kín 1/3 giữa xương cánh tay phải.
+ 1/3 dưới ngoài cẳng tay phải, cách thẳng trên gốc ngón một là 14 cm có một vết xây xát rách da bầm tụ máu kích thước (02x01) cm.
+ Ngay gốc ngón một mu bàn tay phải có một vết thương kích thước (03x0,5) cm.
+ Toàn bộ mặt sau cổ và mu bàn tay trái và ngón tay trái có một vùng xây xát rách da bầm tụ máu không liên tục kích thước (40x10) cm.
+ Ngay đầu gối phải và toàn bộ mặt trước cẳng chân phải có một vùng xây xát rách da bầm tụ máu không liên tục kích thước (40x12) cm.
+ Ngay đầu gối trái có một vùng xây xát mài miết mất lớp thượng bì da, rách da bầm tụ máu không liên tục kích thước (08x14) cm.
+ Toàn bộ mặt trước cổ mũi ngón bàn chân trái có một vùng xây xát mài miết mất lớp thượng bì da, rách da, bầm tụ máu không liên tục kích thước (20x18) cm.
+ Toàn bộ vùng lưng bị xây xát da bầm tụ máu không liên tục kích thước (60x35) cm.
Tất cả các vết thương trên đều có hình không xác định, rìa và thành vết thương đứt không gọn bầm tụ máu.
- Mổ tử thi: Tiến hành giải phẫu phần đầu bên phải thấy tổ chức dưới da bị bầm tụ máu nặng, xương hộp sọ bị đoạn đo được có kích thước (15,5x0,7) cm, máu trong hộp sọ chảy ra ngoài qua đường vỡ xương và vết thương.( Bút Lục: 55, 56).
* Tại bản kết luận giám định Pháp y về tử thi số 275/KL-PC09(PY) ngày 14/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: Nguyên nhân dẫn đến cái chết của Đặng Văn B là: Vỡ xương hộp sọ, xuất huyết não; gãy xương hàm dưới và xương cánh tay phải do đa chấn thương. (Bút lục: 44, 45).
* Tại bản kết luận giám dấu vết cơ học số 281/KLGĐ-KTHS (DVCH) ngày 16/11/2020 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định:
- Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 37U1-6094 và xe mô tô biển kiểm soát 37L2-247.92 di chuyển trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Bắc-Nam (hướng từ Thành Phố H đi Thành Phố V); xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44 di chuyển cùng chiều với xe mô tô biển kiểm soát 37U1-6094 và xe mô tô biển kiểm soát 37L2-247.92.
- Xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44 có va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 37U1-6094.
* Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44 với xe mô tô biển kiểm soát 37U1-6094.
- Trên hiện trường: Ở làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất (tính từ Tây sang Đông) của phần đường bên phải theo hướng từ Thành Phố H đi Thành Phố V.
- Trên phương tiện:
+ Trên xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44: Ở góc trước bên phải đầu xe.
+ Trên xe mô tô biển kiểm soát 37U1-6094: Ở đuôi xe.
- Xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44 có va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 37L2-247.92.
- Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường Quốc lộ 1A theo hướng từ Thành Phố H đi Thành Phố V nhưng không đủ cơ sở vị trí va chạm trên làn đường nào.
- Trên phương tiện:
+ Trên xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44: Ở góc trước bên phải đầu xe.
+ Trên xe mô tô biển kiểm soát 37L2-247.92: Ở góc đuôi xe.
- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44; xe mô tô biển kiểm soát 37U1-6094 và xe mô tô biển kiểm soát 37L2-247.92 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.
* Kết quả phiếu kiểm tra nồng độ cồn do Công an huyện D lập vào ngày 16/02/2020: Nồng độ cồn trong hơi thở của Lưu Quang Tr tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông là 0,892 miligam/1 lít khí thở.
Bản cáo trạng số 49/CT-VKS-DC ngày 26 tháng 02 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy tố bị cáo Lưu Quang Tr về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 260 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lưu Quang Tr về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 54; điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Quang Tr từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng. Trả lại Giấy phép lái xe cho bị cáo.
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về bồi thường dân sự: Lưu Quang Tr đã tự nguyện thỏa thuận các khoản tiền chi phí mai táng, bồi thường đền bù khác cho gia đình nạn nhân anh Đặng Văn B tổng số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và bồi thường cho anh Đàm Văn D tổng số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Hiện tại, đại diện gia đình nạn nhân Đặng Văn B không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; anh Đàm Văn D không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tật nên miễn xét.
- Án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội thực hiện đúng như cáo trạng truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án và diễn biến khách quan của vụ án. Đã có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 10/11/2020, tại km 435+ 450 m Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã DA, huyện D, tỉnh Nghệ An; Lưu Quang Tr có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44 khi trong người có nồng độ cồn trong hơi thở là 0,892 miligam/1 lít khí thở( sử dụng rượu), không giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước nên đã đâm vào phía sau xe mô tô biển kiểm soát 37U1- 6094 do anh Đặng Văn B điều khiển, rồi tiếp tục đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 37L2- 247.92 do anh Đàm Văn D điều khiển. Hậu quả: anh Đặng Văn B chết tại chỗ, anh Đàm Văn D bị thương. Hành vi tham gia giao thông của Lưu Quang Tr vi phạm Khoản 8 Điều 8 và Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, đồng thời vi phạm Điều 260 Bộ luật hình sự.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản hiện trường, các dấu vết trên các phương tiện và các chứng cứ tài liệu điều tra khác đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lưu Quang Tr đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 điều 260 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định gây ra tại nạn giao thông hậu quả ở mức nghiêm trọng (chết một người, bị thương một người), chính vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 điều 260 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
. Đánh giá tính chất vụ án thuộc loại tội phạm nghiêm trọng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trong tình hình hiện nay các hành vi vi phạm quy định về giao thông vận tại đang được các cơ quan chức năng kiên quyết xử lý. Bị cáo sử dụng nồng độ cồn trong khi điều khiển xe ô tô, thiếu quan sát, làm chủ tốc độ, phương tiện và khoảng cách khi tham gia giao thông nên đã gây hậu quả nghiêm trọng, lỗi hoàn toàn là của bị cáo; tuy nhiên, theo các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, còn có một phần lỗi của người bị hại là anh Đàm Văn D trong việc đột ngột chuyển làn đường làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý tình huống của bị cáo nên khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc và xem xét phần nào cho bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xử lý nghiêm bị cáo mới đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
. Đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn khai báo thành khẩn, sau khi tai nạn xảy ra đã đưa người bị hại đến bệnh viện đi cấp cứu, sau đó đến công an huyện D đầu thú, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ những tổn thất cho gia đình người bị hại điều đó đã thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương. Bởi vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng ổn định, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú vì vậy nghĩ chưa cần thiết phải cách ly xã hội mà áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo dưới khung hình phạt và áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ niềm tin để bị cáo sửa mình, cải tạo thành người tốt, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng: không có.
. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5, điều 260 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe số No.400162029352 mang tên Lưu Quang Tr cấp ngày 26/9/2016 hiện đang được bảo quản trong hồ sơ vụ án.
. Xử lý vật chứng: Xe ô tô biển kiểm soát 37A-522.44, xe mô tô biển kiểm soát 37U1-6094 và xe mô tô biển kiểm soát 37L2-247.92 sau khi tạm giữ để điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã tiến hành trả lại chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên tòa miễn xét.
. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lưu Quang Tr đã tự nguyện thỏa thuận các khoản tiền chi phí mai táng, bồi thường đền bù khác cho gia đình nạn nhân anh Đặng Văn B tổng số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và anh Đàm Văn D tổng số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Hiện tại, đại diện gia đình nạn nhân Đặng Văn B, anh Đàm Văn D đều không yêu cầu bồi thường dân sự, từ chối định giá các tài sản (hai xe máy) và anh Đàm Văn D có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 54; điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Lưu Quang Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: bị cáo Lưu Quang Tr 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng tính tù ngày tuyên án sơ thẩm (18/5/2021).
Giao bị cáo Lưu Quang Tr cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với UBND xã (phường) khi có yêu cầu. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe số No. 400162029352 mang tên Lưu Quang Tr được cấp ngày 26/9/2016.
2/ Về án phí: Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Lưu Quang Tr phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đại diện hợp pháp của người bị hại anh Đặng Văn B, người bị hại anh Đàm Văn D, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người TGTT khác; - VKS huyện Diễn Châu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An ; - Công an huyện (NVCS); - Chi cục THA dân sự; - THA hình sự; - Sở tư pháp - Lưu hồ sơ + lưu trữ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Xuân Hùng |