- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cam văn H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cam Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2021/HS-ST Ngày 21-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tạ Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lành Văn Khánh
Bà Lương Thị Mỹ Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Chu Văn Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:
Cam Văn H, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1985 tại Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 20/97, T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cam Văn H, sinh năm 1954 và bà Đàm Thị V, sinh năm 1954; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 22-8-2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 126/2018/HS-ST, chưa được xóa án tích; tiền sự: Ngày 01-3-2021 bị Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 12/QĐ-XPHC, chưa được xóa tiền sự; nhân thân: Ngày 9-6-2011 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 (ba) năm tù giam về tội Vận chuyển hàng cấm theo Bản án số 06/2011/HS-ST (đã được xóa án tích); ngày 28-6-2018 bị Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (đã hết thời hiệu); bị bắt tạm giữ từ ngày 16-6-2021, tạm giam từ ngày 19-6-2021 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Bích N, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 20/97 T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn H, sinh năm 1966; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ ngày 16-6-2021, tại khu vực trước cửa nhà số 38/125 đường P, phường V, thành phố L, Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Cam Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) túi nilon chứa 03 (ba) viên nén màu đỏ và các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 12F8 - 9387. Tại Kết luận giám định số 225/KL-PC09 ngày 17-6-2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận 03 (ba) viên nén màu đỏ và các hạt tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,531 gam (đã trừ bì) Tại Bản cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 08-9-2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Cam Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Cam Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trần Bích N trình bày, chị là chị dâu của bị cáo Cam Văn H, ngày 16-6-2021 chị giao cho bị cáo chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 12F8 - 9387 để làm phương tiện đi giao hàng cho khách thay chị. Sau đó bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt và thu giữ chiếc xe trên. Chiếc xe trên là của chị mua, đăng ký xe mang tên chị, việc bị cáo sử dụng chiếc xe trong quá trình phạm tội chị không biết. Chị đã được cơ quan công an trả lại chiếc xe, nay chị không có ý kiến, yêu cầu gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cam Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu để tiêu hủy chất ma túy là mẫu vật sau giám định, xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại chị Trần Bích N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 12F8 - 9387; căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Cam Văn H xin hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng; giải thích, hướng dẫn bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng.
Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn H là người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn H theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cam Văn H khai nhận bị cáo nghiện chất ma túy từ lâu. Khoảng 10 giờ sáng ngày 16-6-2021, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 12F8 - 9387 mượn của chị Trần Bích N ra khu vực rạp chiếu phim Đ gặp một người đàn ông không quen biết để mua ma túy về sử dụng. Bị cáo đã mua được một ít ma túy đá với tổng giá tiền là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, bị cáo mang về nhà giấu dưới chiếu ở giường ngủ của bị cáo. Buổi trưa cùng ngày bị cáo cầm số ma túy trên, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12F8 - 9387 tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực đường P, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn thì bị phát hiện bắt quả tang. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,531 gam (đã trừ bì), mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Cam Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Việc bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy còn là hành vi vi phạm Luật Phòng, chống ma túy, tự hủy hoại sức khỏe của bản thân và đó cũng là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngày 22-8-2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 126/2018/HS-ST, ngày 29-4-2020 mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [7] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa được xóa tiền sự) và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (đã hết thời hiệu). Bị cáo cũng đã từng bị kết án về tội Vận chuyển hàng cấm, tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt, thiếu tu dưỡng bản thân và coi thường pháp luật. [8] Từ những nhận định trên, thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội. [9] Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Biên bản xác minh ngày 13-8-2021) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [10] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo ở khu vực rạp chiếp phim Đ do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở điều tra, xác minh, xử lý. [11] Xử lý vật chứng: Mẫu vật đã giám định đựng trong 01 (một) phong bì đã niêm phong là chất ma túy, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại chị Trần Bích N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 12F8 - 9387. [12] Về án phí: Bị cáo Cam Văn H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. [13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về hình phạt đối với bị cáo có phần thấp, bởi lẽ khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,531g (đã trừ bì); bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm và có nhân thân rất xấu, đã 02 (hai) lần bị xử phạt vi phạm hành chính và 01 (một) lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc đưa ra mức án phù hợp đối với bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào Điều 296, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cam Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cam Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-6-2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng
Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong;
(Vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09-9-2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
4. Án phí: Bị cáo Cam Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS CATP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Nhàn |