vanban.org

Bản án 111/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 08/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] C n cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65; Điều 47 (Đối với tất cả các bị cáo ; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (Đối với T1, N, T2, I ; điểm x khoản 1 Điều 51 (Đối với I ; điểm s khoản 1 Điều 51 (Đối với L); khoản 2 Điều 51 (Đối với N, I, L ; khoản 3 Điều 321; Điề…

C n cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. C n cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH 13 n ày 25/11/2015 của Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] C n cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65; Điều 47 (Đối với tất cả các bị cáo ; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (Đối với T1, N, T2, I ; điểm x khoản 1 Điều 51 (Đối với I ; điểm s khoản 1 Điều 51 (Đối với L); khoản 2 Điều 51 (Đối với N, I, L ; khoản 3 Điều 321; Điề…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:111/2020/HS-ST
Ngày 08 - 9 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: -Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ và n Trịnh V n Chi. Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung - Là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

N ày 08 thán 9 n m 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2020/TLST-HS n ày 04 thán 8 n m 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2020/QĐXXST-HS n ày 26 thán 8 n m 2020, đối với các bị cáo:

1/ Hoàng Trung T1, sinh n m 1974; nơi cư trú: thôn NN, xã LC, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ v n hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con n : Hoàn V n L (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị C, sinh n m 1947; vợ: Nguyễn Thị H, sinh n m 1978; con: có 02 con, con lớn sinh n m 1999, con nhỏ sinh n m 2003; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 22/5/2020 đến ngày 27/5/2020 được áp dụng biện pháp n n chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đan được tại ngoại tại địa phươn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Có mặt tại phiên tòa.

2/ Lê Xuân N, sinh n m 1968; nơi cư trú: thôn T, xã LT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ v n hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê V n Đ và bà: Lê Thị S (Đều đã chết); Vợ: Lê Thị Đ, sinh n m 1973; con: Có 03 con, con lớn sinh n m 1992, con nhỏ sinh n m 2005; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 22/5/2020 đến ngày 27/5/2020 được áp dụng biện pháp n n chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đan được tại ngoại tại địa phươn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Có mặt tại phiên tòa.

3/ Lê Văn T2, sinh n m 1976; nơi cư trú: th n T, xã LT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ v n hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con n : Lê V n N (Đã chết và bà: Lê Thị H, sinh n m 1941; Vợ: Lê Thị G, sinh n m 1976; con: Có 02 con, con lớn sinh n m 2000, con nhỏ sinh n m 2006; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 22/5/2020 đến n ày 27/5/2020 được áp dụng biện pháp n n chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đan được tại ngoại tại địa phươn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Có mặt tại phiên tòa.

4/ Lê Công L, sinh n m 1980; nơi cư trú: th n T, xã LT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ v n hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Công T, sinh n m 1954 và bà: Lê Thị T, sinh n m 1953; Vợ: Lê Thị H, sinh n m 1984; con: Có 03 con, con lớn sinh n m 2009, con nhỏ sinh n m 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/7/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Bị tạm giữ từ ngày 22/5/2020 đến ngày 27/5/2020 được áp dụng biện pháp n n chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đan được tại ngoại tại địa phươn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Có mặt tại phiên tòa.

5/ Lê Văn I, sinh n m 1960; nơi cư trú: th n T, xã LT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ v n hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con n : Lê V n Đ và bà: Lê Thị S (Đều đã chết); vợ: Lê Thị V, sinh n m 1962; con: Có 02 con, con lớn sinh n m 1984, con nhỏ sinh n m 1986; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ n ày 22/5/2020 đến n ày 27/5/2020 được áp dụng biện pháp n n chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đan được tại ngoại tại địa phươn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, n ày 21/5/2020, Lê V n I đan ở nhà tại thôn T, xã LT, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thì Lê V n T2, Lê Công L, Hoàng Trung T1 và Lê Xuân N đến cùng vào ngồi uốn nước dưới chiếu trải ở sân. Lúc này, T2, L, T1, N cùng rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi "Lốc". I đi vào nhà lấy bộ tú lơ khơ 52 cây trong tủ nhà, man ra để lên chiếu cho T1, N, T2, L chơi rồi I đi vào tron nhà nằm nghỉ.

* Quá trình chơi các bị cáo T1, N, T2, L đã thống nhất quy luật chơi và tỷ lệ được thua như sau:

Các bị cáo sử dụng bộ tú lơ khơ có 52 cây (lá bài) mặt sau có hoa v n màu xanh gồm các lá bài 2,3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q,K,A tươn ứng với các chất r , cơ, bích, tép. Các bị cáo chơi bài “Lốc”. Mỗi ván chơi, n ười chia bài, chia cho mỗi n ười 10 lá bài. Sau khi chia xong, nếu ai xin “Lốc” mà đánh hết các lá bài, không bị ai chặn được là thắn và được của mỗi n ười chơi 100.000 đồng, còn nếu bị chặn thì phải đưa 600.000 đồng cho n ười chặn được. Còn chia xong không ai xin “Lốc” thì bắt đầu đánh từ n ười chia bài đến khi có n ười đánh hết các lá bài thì n ười này là n ười thắn và được tiền của nhữn n ười chơi với cách tính đếm lá bài của mỗi n ười chơi còn lại, mỗi lá bài tươn ứng với 5.000 đồn , n ười chơi nào trong suốt quá trình của mỗi ván chơi mà kh n đánh được lá bài nào (Bài còn nguyên 10 lá) coi là bị “Cháy hoặc Lủng” thì phải đưa cho n ười thắng 80.000 đồng.

Ngoài ra T1, N, T2, L còn quy ước nếu mỗi ván chơi, n ười chơi nào xin “Lốc” mà đánh thắng thì phải trích ra 20.000 đồn để khi chơi xon sẽ đưa lại cho I coi như tiền điện nước.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi T1, T2, L, N đan đánh bạc thì bị lực lượng Công an thành phố Phủ Lý phát hiện bắt quả tang.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

- 01 chiếc chiếu cói màu vàng có viền màu đỏ ở giữa và có hoa v n màu đỏ.

- Thu trên chiếu: 52 cây bài tú lơ khơ, số tiền 3.235.000 đồng.

- Thu giữ của Hoàng Trung T1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng, 01 chiếc ví dạng da màu nâu, 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Trung T1; 01 đ n ký m t , xe máy BKS: 89F8-1361 tên chủ xe Phạm Quan Vĩ, số tiền 6.210.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô BKS: 89F8-1361.

- Thu giữ của Lê Xuân N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng, số IMEI 1: 354072093269737, IMEI 2: 354073093269735, 01 chiếc ví da màu nâu bên trong có số tiền 2.002.000 đồng.

- Thu giữ của Lê Công L: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 pro màu vàng, số IMEI 1:356446086136954, số IMEI 2: 356447086136952, 01 chiếc ví da màu đen bên tron có số tiền 510.000 đồng, 01 c n cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng nhận đ n ký xe m t , xe máy đều mang tên Lê Công L.

+ Thu giữ của Lê V n T2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 màu đen, số IMEI 1: 352987109386138, số IMEI 2:352988109386136 đã qua sử dụng và số tiền 509.000 đồng.

T n số tiền các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê Công L sử dụng vào việc đánh bạc là: 12.466.000 đồng.

Từ những nội dung trên, bản cáo trạng số: 103/CT-VKS-PL ngày 03/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê Công L, Lê V n I về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như đã nêu tron bản cáo trạn , kh n thay đ i, b sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết t n nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê Công L, Lê V n I phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65 (Đối với tất cả các bị cáo ; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (Đối với T1, N, T2, I ; điểm x khoản 1 Điều 51 (Đối với I ; điểm s khoản 1 Điều 51 (Đối với L); khoản 2 Điều 51 (Đối với N, I, L) của Bộ luật Hình sự. Đề n hị xử phạt:

Bị cáo Lê C n L từ 12 đến 15 thán t , cho hưởn án treo, thời ian thử thách từ 24 đến 30 thán .

Các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê V n I mỗi bị cáo từ 09 đến 12 thán t , cho hưởn án treo, thời ian thử thách từ 18 đến 24 thán .

+ Về hình phạt b sun : Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, phạt các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê Công L mỗi bị cáo từ 1.000.000 đồn đến 3.000.000 đồn sung Ngân sách Nhà nước.

+ Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụn Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 chiếc chiếu cói màu vàn và 52 cây bài tú lơ khơ.

Tịch thu sun N ân sách Nhà nước: số tiền 12.466.000đ.

- Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạn đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã c n bố tại phiên tòa. Các bị cáo không tranh luận bào chữa gì. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đún về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của nhữn n ười tiến hành tố tụn . Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của nhữn n ười tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh iá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa với lời khai của các bị cáo tron quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt n ười phạm tội quả tang về thời ian, địa điểm, diễn biến vụ án, vật chứng thu giữ cũn như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng thời ian từ 20 iờ 30 phút đến 23 giờ, ngày 21/5/2020, tại nhà của Lê V n I ở thôn T, xã LT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam, Lê V n I lấy bộ bài tú lơ khơ tron tủ ra để Hoàng Trung T1, Lê Xuân N, Lê V n T2, Lê Công L đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi“ Lốc” với t ng số tiền là 12.466.000 đồng, thì bị lực lượng Công an thành phố Phủ Lý phát hiện bắt quả tang.

Do vậy hành vi của các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê Công L, Lê V n I đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với các bị cáo như bản cáo trạn đã nêu là có c n cứ, đún n ười, đún tội.

Đánh iá về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộn trên địa bàn thành phố Phủ Lý, gây ảnh hưởng nghiêm trọn đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội. Hành vi này nếu kh n được n n chặn kịp thời sẽ kéo theo nhiều hệ lụy cho ia đình và xã hội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo bằng mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong cộn đồng. Tuy nhiên, cũn cần phải đánh iá số tiền, mức độ tham gia của từng bị cáo trong vụ án, để quyết định hình phạt cho phù hợp, khách quan, phản ánh đún tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

Xem xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo Hoàn Trung T1, Lê Xuân N, Lê V n T2, Lê C n L c n tham ia đánh bạc, bị cáo Lê V n I biết các bị cáo đánh bạc n tiền, nhưn v n cho mượn địa điểm, chuẩn bị c n cụ cho các bị cáo đánh bạc. Do vậy các bị cáo có vai trò n an nhau tron vụ án.

Khi lượn hình cũn cần cân nhắc đến các tình tiết t n nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo để áp dụng hình phạt.

Về nhân thân: Các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê V n I là nhữn n ười có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo Lê C n L có nhân thân xấu, đã từn bị x t xử về tội “Đánh bạc” nhưn kh n lấy đó làm bài học mà v n thực hiện hành vi phạm tội. Do đó khi lượng hình Hội đồn x t xử cũn sẽ cân nhắc đến các tình tiết này.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê V n I phạm tội lần đầu và thuộc trườn hợp ít n hiêm trọn . Ngoài ra, bị cáo I là n ười có công với cách mạn là thươn binh, sau khi sự việc xảy ra đã ra đầu thú; bị cáo N có thời ian tham ia n hĩa vụ quân sự; bị cáo L có n nội là liệt sĩ, cụ nội được truy tặn danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh h n . Do đó, các bị cáo T1, T2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo I được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Công L được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết t n nặng: Các bị cáo không phải chịu một tình tiết t n nặng trách nhiệm hình sự nào.

Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết t n nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo có nơi cư trú, có lý lịch rõ ràng, có nhiều tình tiết iảm nhẹ. Vì vậy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho các bị cáo hưởn án treo cải tạo tại địa phươn theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũn đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà v n đáp ứn được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong cộn đồng.

- Hình phạt b sung: Xét mục đích phạm tội của các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê V n T2, Lê Xuân N, Lê Công L là đánh bạc để trục lợi bất chính về kinh tế nên cần thiết phải áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũn xem x t đến hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo để áp dụng mức phạt cho phù hợp. Bị cáo Lê V n I cho các bị cáo mượn địa điểm để đánh bạc nhưn kh n có mục đích trục lợi về kinh tế, nên kh n cần thiết phải áp dụn hình phạt b sun đối với bị cáo I.

Về vật chứng:

- Đối với 01 chiếc chiếu cói màu vàn ; 52 cây tú lơ khơ là công cụ các bị cáo sử dụn để đánh bạc cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 12.466.000đ thu giữ tại chiếu bạc và của các bị cáo T1, N, L, T2 đều sử dụn vào mục đích để đánh bạc, nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, 01 ví da màu đen, 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Trung T1, 01 chiếc xe máy BKS: 89F8-1361, 01 Đ n ký xe m t man tên Phạm Quang Vỹ là tài sản iấy tờ hợp pháp của Hoàn Trun T1. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng, 01 ví da màu nâu là tài sản hợp pháp của Lê Xuân N. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu vàng, 01 ví da màu đen, 01 C n cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng nhận đ n ký xe máy đều mang tên Lê Công L. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4+ màu đen là tài sản hợp pháp của Lê V n T2. Các tài sản iấy tờ trên kh n liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại các giấy tờ và tài sản trên cho các bị cáo T1, N, L, T2 là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] C n cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65; Điều 47 (Đối với tất cả các bị cáo ; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (Đối với T1, N, T2, I ; điểm x khoản 1 Điều 51 (Đối với I ; điểm s khoản 1 Điều 51 (Đối với L); khoản 2 Điều 51 (Đối với N, I, L ; khoản 3 Điều 321; Điều 35 (Đối với T1, N, T2, L) của Bộ luật Hình sự.

C n cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

C n cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH 13 n ày 25/11/2015 của Quốc hội.

C n cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 n ày 30 thán 12 n m 2016 của y ban Thườn vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụn án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê Xuân N, Lê V n T2, Lê Công L, Lê V n I phạm tội “Đánh bạc”.

[3] Xử phạt:

- Bị cáo Lê Công L 15 (Mười l m thán t , cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi tháng, tính từ n ày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Hoàng Trung T1 12 (Mười hai tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn tháng, tính từ n ày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Lê Xuân N 10 (Mười thán t , cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi tháng, tính từ n ày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Lê V n T2 10 (Mười thán t , cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi tháng, tính từ n ày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Lê V n I 09 (Chín thán t , cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Trung T1 cho y ban nhân dân xã LC, huyện TL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao các bị cáo Lê Xuân N, Lê V n T2, Lê Công L, Lê V n I cho y ban nhân dân xã LT, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp n ười được hưởn án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, n ười được hưởng án treo cố ý vi phạm n hĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc n ười được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[4] Về hình phạt b sun : Phạt các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê Xuân N, Lê V n T2, Lê Công L mỗi bị cáo 2.000.000đ (Hai triệu đồn sung Ngân sách Nhà nước.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiên hủy: 01 chiếc chiếu cói màu vàng, có viền màu đỏ, ở iữa có hoa v n màu đỏ và xanh; 52 cây tú lơ khơ, mặt sau mỗi cây có hoa v n màu xanh.

- Tịch thu sun N ân sách Nhà nước: số tiền 12.466.000đ (Mười hai triệu, bốn tr m sáu mươi sáu n hìn đồn .

( Các vật chứng nêu trên có tình trạn , đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 05/8/2020 và y nhiệm chi số 48 lập ngày 11/8/2020).

[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Hoàng Trung T1, Lê Xuân N, Lê V n T2, Lê Công L, Lê V n I mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai tr m n hìn đồn .

Về quyền khán cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, n ười phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ