vanban.org

Bản án 111/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/04/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/04/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ch p nhận kháng cáo của người đại diện h p pháp của bị hại Nguyễn Thành Trí D đã ch t là bà Lăng Thanh T1 và chị Nguyễn Ngọc Anh T2.

Sửa bản án sơ thẩm số 33/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nh n dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp về việc nhận định bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t khi tham gia giao thông có nồng độ cồn vư t quá quy định (200,1mg/100ml máu), do đó sự việc va chạm xảy ra cũng một phần là do lỗi của người bị hại. Về á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Ch p nhận kháng cáo của người đại diện h p pháp của bị hại Nguyễn Thành Trí D đã ch t là bà Lăng Thanh T1 và chị Nguyễn Ngọc Anh T2.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2020/HS-PT
Ngày: 27 - 4 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Thẩm phán: Ông Ngô T n L i.

Ông Đinh Ch T m.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn T n Ngh a - Thư ký Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 51/2020/TLPT-HS, ngày 16 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Ch T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Ch T, sinh ngày 21/02/2001 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Khóm S, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học v n: 5/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị C1; chưa có v và con; tiền án, tiền sự: Không; bị b t, tạm giam: Không; có m t.

- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:

1. Người đại diện h p pháp của bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t :

1.1. Bà Lăng Thanh T1, sinh năm 1967 v bị hại ; có m t.

1.2. Chị Nguyễn Ngọc Anh T2, sinh năm 1995 con bị hại ; có m t.

Cùng cư trú: Khóm x, thị tr n S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra còn có người đại diện h p pháp của bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t là chị Nguyễn Ngọc Thùy D1, người có quyền l i, ngh a vụ liên quan đ n vụ án không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:

Vào khoảng 23 giờ 05 phút ngày 11/5/2019, bị cáo Nguyễn Ch T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SAVI, biển kiểm soát 66P2-072.xx, dung tích xi lanh 109cm3 nhưng bị cáo T không có gi y phép lái xe theo quy định, chạy với tốc độ từ 50 - 60 km/giờ, chở cháu L m Huyền T3 ngồi ph a sau chạy trên đường N hướng từ Khóm 2 về Khóm 1, thị tr n S, huyện T. Khi bị cáo T điều khiển xe đ n gần ngã tư giao nhau giữa đường N và đường H, thuộc Khóm 1, thị tr n S thì bị cáo T nhìn th y xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 66L5-01xx do ông Nguyễn Thành Tr D điều khiển chạy theo hướng từ đường H đ n vòng xoay. Khi xe mô tô bị cáo T điều khiển còn cách xe ông D khoảng 07 đ n 08 mét thì bị cáo T nhìn th y và có b m còi nhưng không giảm tốc độ nên không tránh kịp dẫn đ n va chạm với xe mô tô của ông D. Hậu quả làm 02 xe và 03 người ngã xuống đường, cháu Lâm Huyền T3 bị xay xát nhẹ, ông D và bị cáo T đư c đưa đ n Trung tâm Y t huyện T c p cứu nhưng ông D đã tử vong.

Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu SAVI, biển kiểm soát 66P2-072.xx, màu xanh, số máy 00010941, số khung 010941, do bà Nguyễn Thị M đứng tên gi y chứng nhận đăng ký và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 66L5-01xx, màu đen - xám - bạc, số máy 35E-0660882, số khung 35027Y1117 do bà Lăng Thanh T1 đứng tên gi y chứng nhận đăng ký.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 11/5/2019 thể hiện như sau:

Hiện trường vụ tai nạn nằm tại ngã tư nơi giao nhau giữa đường N và đường H có biển báo và đèn t n hiệu giao thông nhưng không hoạt động , đường N có chiều rộng 12 mét, đường H có chiều rộng 7,80 mét.

Vị tr điểm va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 66P2-072.xx (do bị cáo T điều khiển và xe mô tô biển kiểm soát 66L5-01xx (do ông D điều khiển nằm ở phải ngã tư, cách lề phải theo hướng từ Khóm 2 về Khóm 1, thị tr n S là 4,90 mét.

Tại bản k t luận giám định pháp y về tử thi số: 128/TTh-TTPY ngày 12/5/2019 của Trung t m Pháp y Sở Y t tỉnh Đồng Tháp k t luận về nguyên nh n tử vong của ông Nguyễn Thành Tr D là do nứt sọ vùng chẩm, ch n thương sọ não, đa ch n thương/TNGT.

Tại biên bản k t luận định giá tài sản số: 61/KL-HĐĐG ngày 05/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T k t luận chi c xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 66L5-01xx bị hư hỏng trị giá 850.000đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2019/HS-ST ngày 29/11/2019, Tòa án nhân dân T, tỉnh Đồng Tháp đã quy t định:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ch T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ch T 02 hai năm tù, thời hạn tù t nh từ ngày bị cáo ch p hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm d n sự, trách nhiệm do chậm thực hiện ngh a vụ trả tiền, về xử lý vật chứng, về án ph , quyền kháng cáo, quyền và ngh a vụ của người đư c thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/12/2019, người đại diện h p pháp của bị hại là bà Lăng Thanh T1 và chị Nguyễn Ngọc Anh T2 kháng cáo yêu cầu xem xét lại phần nhận định của bản án sơ thẩm, bản án sơ thẩm nhận định có một phần lỗi của bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t do có nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông là không đúng, yêu cầu c p phúc thẩm nhận định lại lỗi là hoàn toàn của bị cáo T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm số: 33/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nh n d n huyện T đã xét xử đối với bị cáo. Bị cáo T không có gi y phép lái xe theo quy định, khoảng hơn 23 giờ ngày 11/5/2019 bị cáo T có điều khiển xe mô tô biển số 66P2-072.xx chở cháu T3 ngồi ph a sau chạy trên đường N hướng từ Khóm 2 về Khóm 1, thị tr n S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Khi đ n gần ngã tư giao nhau giữa đường N và đường H, thuộc Khóm 1, thị tr n S thì bị cáo T nhìn th y xe mô tô do ông D điều khiển chạy hướng từ đường H đ n vòng xoay, bị cáo có b m còi nhưng không giảm tốc độ nên không tránh kịp dẫn đ n va chạm với xe mô tô của ông D. Hậu quả cháu T3 bị xay xát nhẹ, ông D tử vong. Bị cáo T nhận tội và đồng ý với quy t định của bản án sơ thẩm, hiện bị cáo đang ch p hành hình phạt tù tại Trại giam kênh 7, Bộ Công an. Về nội dung kháng cáo của bà T1 và chị T2 thì bị cáo không ý ki n, tuy nhiên khi đó bị hại D qua đường thi u quan sát nên bị cáo tránh không kịp, đã xảy ra tại nạn trên.

Bà Lăng Thị Thanh T1 và chị Nguyễn Ngọc Anh T2 cùng trình bày là bà T1 và chị T2 không rút kháng cáo, không đồng ý bản án hình sự sơ thẩm nhận định bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t có một phần lỗi trong vụ án trên vì ông D không có lỗi.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quy t vụ án: Đơn kháng cáo của bà T1 và chị T2 nộp trong thời hạn luật định nên h p lệ. Tòa án c p sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Xét mức án 02 năm tù là phù h p với t nh ch t, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã g y ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện h p pháp của bị hại D đã ch t là bà T1 và chị T2 kháng cáo yêu cầu xem xét lại phần nhận định của bản án sơ thẩm vì nhận định trong vụ án hình sự trên có một phần lỗi của bị hại D do khi tham gia giao thông có nồng độ cồn trong máu vư t quá quy định.

Xét đơn kháng cáo của bà T1 và chị T2, nhận th y căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản khám nghiệm hiện trường, m c dù khi tham gia giao thông nồng độ cồn trong máu của bị hại D đã ch t vư t quá quy định, nhưng việc Tòa án c p sơ thẩm nhận định bị hại có một phần lỗi để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T là chưa phù h p, nên kháng cáo của bà T và chị T2 là có cơ sở để ch p nhận. Cần xác định lỗi trong vụ án này là của bị cáo.

Căn cứ vào Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận kháng cáo của người đại diện h p pháp của bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t là bà Lăng Thanh T1, chị Nguyễn Ngọc Anh T2 và sửa bản án sơ thẩm về việc nhận định bị hại có một phần lỗi trong vụ án hình sự trên. Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo T thống nh t với quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quy t vụ án, không tranh luận.

Bà T1 và chị T2 thống nh t quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quy t vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ch T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo T phù h p với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở khẳng định Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử bị cáo Nguyễn Ch T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đ n trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo T là người thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức đư c xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, việc tham gia giao thông đường bộ phải tu n theo quy định về an toàn giao thông đường bộ, người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ làm ch t người, không có gi y phép lái xe theo quy định thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Nhưng khi tham gia giao thông đường bộ ngày 11/5/2019, m c dù không có gi y phép lái xe, bị cáo T vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66P2-072.xx, chạy vư t quá tốc độ so với quy định, đ n điểm giao nhau không nhường đường nên đã va chạm vào xe mô tô do ông D điều khiển, hậu quả làm ông D tử vong. Bị cáo có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên và việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi vô ý. Do đó phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã g y ra nhằm giáo dục bị cáo trở thành công d n tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quy t định hình phạt, Tòa án c p sơ thẩm đã xem xét tình ti t người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại ho c kh c phục hậu quả, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ. Bị cáo T có ông cồ là ông Trần Văn N (ông ngoại của mẹ bị cáo là liệt s , nên Tòa án c p sơ thẩm đã xem xét tình ti t này là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có cơ sở.

Ngoài ra Tòa án c p sơ thẩm còn áp dụng tình ti t bị hại Nguyễn Thành Tr D khi tham gia giao thông có nồng độ cồn vư t quá quy định (200,1mg/100ml máu) và nhận định sự việc va chạm xảy ra cũng một phần là do lỗi của người bị hại nên đư c xem là tình ti t giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là chưa phù h p. Tuy nhiên xét mức án 02 năm tù mà Tòa án c p sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T là đúng với t nh ch t, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nh n th n bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T không kháng cáo và hiện đang ch p hành hình phạt tù theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Nhưng người đại diện h p pháp của bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t là bà T1 và chị T2 kháng cáo không đồng ý bản án hình sự sơ thẩm nhận định bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t có một phần lỗi trong vụ án trên yêu cầu xem xét lại phần nhận định của bản án sơ thẩm nhận định có một phần lỗi của bị hại D đã ch t do có nồng độ cồn vư t quá mức quy định khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Xét kháng cáo của bà T1 và chị T2 là có căn cứ như đã nhận định trên, nên đư c Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận.

4 Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nh t với quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nh n d n tỉnh Đồng Tháp, ch p nhận kháng cáo của người đại diện h p pháp của bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t là bà T1 và chị T2 và sửa bản án sơ thẩm về việc nhận định bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t khi tham gia giao thông có nồng độ cồn vư t quá quy định 200,1mg/100ml máu , do đó sự việc va chạm xảy ra cũng một phần là do lỗi của người bị hại.

[5 Về án ph : Bà T1 và chị T2 không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.

[6 Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ch p nhận kháng cáo của người đại diện h p pháp của bị hại Nguyễn Thành Trí D đã ch t là bà Lăng Thanh T1 và chị Nguyễn Ngọc Anh T2.

Sửa bản án sơ thẩm số 33/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nh n dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp về việc nhận định bị hại Nguyễn Thành Tr D đã ch t khi tham gia giao thông có nồng độ cồn vư t quá quy định (200,1mg/100ml máu), do đó sự việc va chạm xảy ra cũng một phần là do lỗi của người bị hại.

Về án ph : Bà Lăng Thanh T1 và chị Nguyễn Ngọc Anh T2 không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ