- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Nguyễn Việt S với ông Trần Văn N và bà Đinh Trúc D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 10.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2020/DS-ST Ngày: 17-9-2020 V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoàng Giang.
Ông Trần Minh Út.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 276/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).
Cư trú tại: Khóm X, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.
Bị đơn:
1. Ông Trần Văn N (vắng mặt).
2. Bà Đinh Trúc D, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Khóm Y, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 6 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án đơn ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 17 tháng 11 năm 2019 bà Đinh Trúc D có vay của ông số tiền 13.000.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận mỗi ngày 13.000 đồng/13.000.000đồng, bà D có ký vào biên nhận nhận tiền. Ngày 07 tháng 01 năm 2020 bà D có trả 2.600.000 đồng, còn nợ lại 10.400.000 đồng. Bà D vay tiền để sử dụng vào mục đích gia đình nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết
-1-buộc bà Đinh Trúc D và chồng là ông Trần Văn N trả số tiền vốn vay 10.400.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 17 tháng 11 năm 2019 đến nay. Tại phiên tòa ông S không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng bà D và ông N vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Việt S khởi kiện yêu cầu bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N trả tiền vay và lãi suất. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N.
Tại phiên tòa ông S cho rằng bà Đinh Trúc D có vay của ông số tiền 13.000.000 đồng, sau khi vay bà D có trả được số tiền 2.600.000 đồng, còn nợ lại 10.400.000 đồng, ông S yêu cầu bà D và ông N trả số tiền còn nợ 10.400.000 đồng. Đối với bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để hòa giải và xét xử nhưng bà D, ông N không cung cấp lời khai cho Tòa án và không có ý kiến đối với yêu cầu của ông S. Theo biên nhận ngày 17 tháng 11 năm 2019 do ông S cung cấp có chữ ký của bà Đinh Trúc D thể hiện bà D có vay của ông S còn nợ số tiền 13.000.000 đồng, sau đó bà D có trả được 2.600.000 đồng, bà D vay tiền trong thời kỳ hôn nhân với ông Trần Văn N nên đây là nợ chung của vợ chồng. Do đó, ông S yêu cầu bà D và ông N trả số tiền 10.400.000 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tại phiên tòa ông S không yêu cầu bà D và ông N trả lãi nên không xem xét.
Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Việt S được chấp nhận nên ông S không phải chịu án phí, ông S nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng được nhận lại. Bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 520.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
-2-
- Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật dân sự và áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 10.400.000 đồng (mười triệu bốn trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí:
Ông Nguyễn Việt S không phải chịu án phí, ông S đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0011690 ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; ông S được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Buộc bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N có nghĩa vụ liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm là 520.000 đồng (năm trăm hai mươi ngàn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Án xử sơ thẩm, ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Đinh Trúc D và ông Trần Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều -3- |