vanban.org

Bản án 111/2020/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 14/07/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 2 Điều 308; Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Cao Anh X - Kiều Anh C"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 2 Điều 308; Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:111/2020/DS-PT
Ngày: 14-7-2020
V/v “Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Nga

Các Thẩm phán:

Ông Lê Quang Ninh

Bà Đinh Thị Quý Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Nga- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2020/TLPT ngày 10/6/2020 về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2020/QĐPT-DS ngày 03 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Cao Anh X, sinh năm 1958 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Kiều Anh C, sinh năm 1979 (có mặt)

Bà Trần Thị H, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị H: Luật sư Nguyễn Tâm L – Văn phòng luật sư Tâm Lý thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Địa chỉ: 133/10/9 Quang Trung, phương 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H.

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 22/2/2019, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Cao Anh X trình bày:

Vào tháng 11/2017 ông X bị vợ chồng ông Kiều Anh C và Trần Thị H làm đơn tố cáo ông X đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L để điều tra hành vi hiếp dâm con gái bà H, ông C là cháu Kiều Nguyệt N, sinh ngày 04/3/2007.

Từ khi xảy ra sự việc trên cho đến nay (tháng 11/2017 đến tháng 01/2019), bản thân ông X không làm việc được, sống trong tâm trạng mặc cảm, tự ti, tinh thần bất ổn, thường xuyên bị bệnh.

Đến ngày 03/01/2019 Công an huyện L ra thông báo về kết quả điều tra, giải quyết vụ việc trên với nội dung kết luận: “Không có sự việc phạm tội”. Từ kết luận của cơ quan điều tra công an huyện L về vụ việc trên ông X không có hành vi xâm hại đến cháu N như đơn tố cáo của bà H, ông C. Việc tố cáo của bà H, ông C làm ông X bị gia đình, xã hội xa lánh, không tôn trọng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm.

Nay ông X yêu cầu bà H, ông C phải bồi thường danh dự, uy tín nhân phẩm bao gồm:

- Chi phí khám bệnh 1.560.000 đồng.

- Tổn thất thu nhập bị mất từ tháng 11/2017 đến thàng 01/2019 là 15 tháng bình quân mỗi tháng 3.000.000đồng là 45.000.000đ.

- Tổn thất về tinh thần 13.000.000đ

* Bị đơn bà bà Trần Thị H và là người đại diện theo uỷ quyền của ông Kiều Anh C trình bày:

Cuối tháng 11/2017 bà H nghe con gái là Kiều Nguyệt N sinh ngày 04/3/2007 nói ông X có hành vi xâm phạm tình dục với cháu N. Nội dung cháu N trình bày ông X có cho xem điện thoại, cho tiền và dặn cháu không cho bố mẹ cháu biết, khi nghe thông tin như vậy bà H suy nghĩ vì sao ông X lại dặn như vậy, vì khoảng thời gian trước đó bà H có cho cháu qua nhà con trai ông X chơi. Trong thời gian ở đó thì ông X cho chơi điện thoại, cháu T ngồi trên ghế chơi điện thoại, cháu N đứng phía sau xem, còn ông X có hành vi lấy tay xoa bìa ngoài ngực của cháu N, lúc đó bà H đang làm vườn tình cờ nhìn thấy sự việc. Bà H cấm các cháu không qua nhà ông X chơi.

Sau đó ông X tiếp tục có hành vi dụ dỗ, trèo qua hàng rào để vào nhà bà H dùng vũ lực để thực hiện hành vi giao cấu với cháu N, cầm dao đe dọa không được nói với bố mẹ nếu không sẽ giết. Sự việc làm cho cháu N hoảng sợ, tinh thần kích động, không muốn đi học. Cháu N có dấu hiệu bị dâm ô, giao cấu, để bảo vệ con nên bà H đã làm đơn tố cáo gửi Công an để giải quyết theo quy định.

Nay ông X yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm bà H, ông C không đồng ý.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Anh X.

Buộc bà Trần Thị H và ông Kiều Anh C phải bồi thường cho ông Cao Anh X số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Anh X đòi bồi thường tiền ngày công lao động bị mất từ tháng 11/2017 cho đến tháng 01/2019 là 45.000.000 đồng.

Đình chỉ yêu cầu bồi thường số tiền thuốc điều trị là 1.560.000 đồng của ông Cao Anh X.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng vụ án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 14/5/2020 bị đơn ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử lại vụ án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 14/5/2020 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 08/QĐKNPT-VKS-DS toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện L. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Không buộc nguyên đơn cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, xác định ông C là bị đơn là không đúng, sai lầm trong việc yêu cầu cơ quan tổ chức cung cấp chứng cứ, không khách quan trong việc xem xét chứng cứ, áp dụng pháp luật không phù hợp. Tại phần nhận định cấp sơ thẩm xác định bà H làm đơn gửi đến đài truyền hình là mức lan truyền thông tin trong cộng đồng rất lớn là chưa chính xác. Cháu N bị xâm hại là đúng, bà H làm đơn tố giác đến cơ quan tố tụng không phải là hành vi trái pháp luật. Do đó, buộc bà H, ông C phải bồi thường cho ông X số tiền 13.000.000đ là trái pháp luật. Đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ cho Tòa án sơ thẩm xem xét giải quyết lại.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 08/QĐKNPT-VKS-DS của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước đối với toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện L.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phát biểu:

- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Về thủ tục kháng cáo, kháng nghị:

Đơn kháng cáo của bị đơn Kiều Anh C, bà Trần Thị H làm trong thời gian luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định tại các Điều 272, Điều 273 của BLTTDS. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đúng quy định tại Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự nên cần xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Xét kháng cáo của bị đơn ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tháng 11/2017 cháu Kiều Nguyệt N, sinh ngày 04/3/2007 là con gái của bà Trần Thị H, ông Kiều Anh C cho rằng: “Vào ngày 24/11/2017 cháu N bị ông Cao Anh X thực hiện hành vi giao cấu” và theo kết quả giám định, tại giấy chứng nhận thương tích ngày 28/11/2017 của Bệnh viện đa khoa huyện L ghi nhận màng trinh của cháu Nrách cũ điểm 1H, 5H, 7H và 11H; đồng thời tại kết luận giám định ngày 27/12/2017 Phân viện pháp y quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Màng trinh của Kiều Nguyệt N đường kính 2cm, có vết rách cũ ở vị trí khoảng 1H, 5H, 7H và 11H … nên bà Trần Thị H đã làm đơn tố giác về hành vi xâm phạm tình dục của ông X đối với cháu N đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L để xem xét, giải quyết. Mặc dù kết quả xác minh của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L kết luận: “Không đủ cơ sở vật chất kết luận ông Cao Anh X có hành vi hiếp dâm cháu N” nhưng theo kết quả giám định pháp y xác định việc cháu N bị người khác giao cấu là có thật.

Vì vậy, việc bà H, ông C với tư cách là cha, mẹ ruột của cháu Kiều Nguyệt N làm đơn tố giác ông Cao Anh X đến các cơ quan tố tụng như lời trình bày của cháu N không phải hành vi trái pháp luật, không phải là lỗi của bà H, ông C mà vì mục đích bảo vệ sức khỏe, danh sự, nhân phẩm cho cháu Nvà ngăn ngừa việc cháu Nbị xâm hại là phù hợp với quy định tại các Điều 4, Điều 8, Điều 26 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông X không cung cấp được chứng cứ tài liệu nào khác chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Đồng thời, việc khởi kiện của ông X không đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 và quy định tại mục 1 của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là không có cơ sở.

Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần để xác định mức độ tổn thất tinh thần của người bị xâm hại phải căn cứ vào hình thức xâm phạm, hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà H đã gửi đơn đến cơ quan Công an huyện L, các cơ quan ban ngành tỉnh Bình Phước và Đài truyền hình VTV và đài truyền hình VTC đăng tin là mức lan truyền trong cộng đồng là rất lớn, đăng tin khi chưa có kết luận của cơ quan chuyên môn như vậy xúc phạm đến danh dự của ông X. Cấp sơ thẩm xác định bà H có lỗi nên đã tuyên buộc bà H, ông C phải bồi thường tổn thất tinh thần cho ông X với số tiền 13.000.000 đồng là không đủ cơ sở, bởi bà H, ông C là cha, mẹ ruột của cháu N làm đơn tố giác ông X đến các cơ quan có thẩm quyền như lời trình bày của cháu N không phải hành vi trái pháp luật, không phải là lỗi của bà H, ông C mà vì mục đích bảo vệ sức khỏe, danh sự, nhân phẩm cho cháu N và ngăn ngừa việc cháu N bị xâm hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn và sửa bản án sơ thẩm.

Xét Quyết định kháng nghị số 08/QĐKNPT-VKS-DS ngày 14/5/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước đề nghị hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Như đã phân tích việc bà H, ông C gửi đơn tố giác hành vi của ông X đến các cơ quan tố tụng không phải là hành vi trái pháp luật, không phải lỗi của bà H, ông C mà vì mục đích bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cho cháu N không bị xâm hại tình dục. Cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông X, xác định bà H và ông C có lỗi và buộc bà H ông C liên đới bồi thường cho ông X số tiền 13.000.000 đồng tiền tổn thất về tinh thần là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải hủy án sơ thẩm mà chỉ cần sửa bản án theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn là đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Do vậy, kháng nghị số 08/QĐKNPT-VKS-DS của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L là có căn cứ một phần nên được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn có căn cứ, phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước có căn cứ, phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H không phải chịu.

Nguyên đơn ông Cao Anh X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nhưng do ông X là người cao tuổi nên được miễn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 2 Điều 308; Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H.

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 34, Điều 584, Điều 585 và Điều 592 Bộ luật dân sự.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

[2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Anh X về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Thị H, ông Kiều Anh C bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

[3]Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H không phải chịu.

Nguyên đơn ông Cao Anh X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng do ông X là người cao tuổi nên được miễn.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Kiều Anh C, bà Trần Thị H không phải chịu. Hoàn trả cho ông C số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001055 ngày 14/5/2020 tại Chi cục thi hành án huyện L, tỉnh Bình Phước. Hoàn trả cho bà H số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001056 ngày 14/5/2020 tại Chi cục thi hành án huyện L, tỉnh Bình Phước.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ