vanban.org

Bản án 111/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 17/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc A 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/7/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số- 111-2019-HS-ST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2019/HS-ST.
Ngày 17/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Hữu Bình

Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu.

2. Ông Vương Minh Tân

Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Hương - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2019, tại nhà văn hóa tổ 8, phường H, thành phố Q, Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số 102/2019/TLST-HS, ngày 15 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2019/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc A, sinh ngày 16/7/1971;

Nơi ĐKHKTT: Tổ 8, phường H, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi ở: Tổ 10, phường X, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang.

Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1942 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1947; anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ nhất (em gái bị cáo đã chết năm 2010); vợ: Vũ Thị Bích N, sinh năm 1971 (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 1999;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 91/2008/HSST ngày 15/9/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Q (nay là thành phố Q), tỉnh Tuyên Quang xử phạt Nguyễn Quốc A 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích).

- Bản án số 194/2014/HSST ngày 11/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Quốc A 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 12/7/2019, Nguyễn Quốc A; nơi ĐKHKTT: tổ 8, phường H, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở tổ 10, phường X, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang (là người nghiện ma túy), một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu XINHA, BKS 22H9-4750 (xe mô tô A mượn của anh Lê Đình H; cư trú tại thôn 4, xã T, thành phố Q) từ nhà đi đến khu vực dốc đỏ, thuộc phường N, thành phố Q, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Anh gặp và hỏi mua được 02 gói nhỏ Heroine, bọc ngoài bằng lớp giấy bạc mầu trắng với giá 200.000 đồng của một người đàn ông (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ). A cầm 02 gói Heroine vừa mua được, điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ vắng để sử dụng; khi đi đến khu vực tổ 6, phường X, thành phố Q thì bị Tổ công tác Công an phường X phát hiện có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, đưa về trụ sở Công an phường X làm việc hồi 17 giờ cùng ngày. Nguyễn Quốc A khai nhận và đã tự giác giao nộp 02 gói nhỏ Heroine.

Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 12/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã lập biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Quốc A, tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu XINHA, BKS 22H9-4750.

Tại kết luận giám định số 526/GĐKTHS ngày 15/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng ngà thu giữ của Nguyễn Quốc A, gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, số thứ tự 09 thuộc danh mục 1A, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ; có khối lượng là 0,116g (không phẩy một một sáu gam).

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Nguyễn Quốc A, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể, Anh khai nhận ngày 11/7/2019 đã sử dụng Heroine mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực dốc đỏ, thuộc phường N, thành phố Q.

Tại Cáo trạng số 104/CT-VKSTP, ngày 15 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q đã truy tố Nguyễn Quốc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quốc A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phần án phí, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải, ý thức sâu sắc về hành vi phạm tội của mình và đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được tái hào nhập công đồng, về nhà chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể bị cáo, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Hồi 17 giờ, ngày 12/7/2019, tại ĐKHKTT: tổ 8, phường H, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở tổ 10, phường X, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang (là người nghiện ma túy), đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,116g (không phẩy một một sáu gam) ma túy là Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép tổ 6, phường X, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang; Nguyễn Quốc A, sinh năm 1971, nơi chất Heroine mà bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan.

Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án, xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà Nước, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, có thể là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, có trình độ học vấn, hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng là hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo đã 02 lần bị Tòa án xét xử vì phạm tội về ma túy và đã từng đi chấp hành hình phạt tù, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, không có ý thức rèn luyện bản thân đoạn tuyệt với ma túy. Mà bị cáo vẫn tiếp tục tái nghiện, để thảo mãn cơn nghiện, bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện hoàn toàn do lỗi cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, khai báo trung thực về hành vi phạm tội của mình; bị cáo nhận thức sâu sắc về hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải; trong thời gian công tác tại Đoàn nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang, năm 2002 bị cáo được Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Tuyên Quang tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 1997-2002; bị cáo hiện có mẹ già, em gái bị cáo đã chết, bị cáo là chỗ dựa duy nhất của mẹ bị cáo; mẹ đẻ bị cáo bà Vũ Thị T được Nhà Nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo tuy có nhân thân xấu nhưng không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xem xét cho bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội và cũng là để mẹ đẻ bị cáo (người có công với cách mạng) có chỗ nương tựa tuổi già.

Mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã thu giữ 01 phong bì niêm phong bên trong có Heroine đã thu giữ của bị cáo, trên các mép dán ngoài phòng bì có chữ ký của bị cáo, các thành phần tham gia niêm phong và dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, số ma túy này cần tịch thu tiêu hủy. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q còn tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu XINHA, BKS 22H9-5047, ngày 26/7/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã trả lại xe cho anh Lê Đình H, việc trả lại xe mô tô cho anh H phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo vào ngày 11/7/2019, Công an thành phố Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18 ngày 25/7/2019, phạt tiền 500.000 đồng.

Đối với người đàn ông, theo A khai nhận trong các ngày 11 và 12/7/2019 đã bán Heroine cho A tại khu vực dốc đỏ thuộc phường N, thành phố Q. Nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Lê Đình H; trú tại thôn 4, xã T, thành phố Q, khi cho Nguyễn Quốc A mượn xe mô tô anh Hồng không biết việc A sử dụng xe để đi mua ma túy nên không xem xét xử lý.

Hội đồng xét xử không xem xét xử lý những nội dung trên.

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc A 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/7/2019.

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong có chữ ký của bị cáo, thành phần tham gia và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có Heroine thu giữ của bị cáo.

(Tình trạng vật chứng được thể hiện như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/8/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q)

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Quốc A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ