vanban.org

Bản án 111/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ng 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2018. Về xử lý vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2019/HS-ST
Ngày: 20-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Phượng;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở T a án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo:

H và tên: Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1991. Tại: Bến Tre; Nơi cư trú: Số 2, ấp Q, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị X; bị cáo không có chồng; bị cáo có 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị b t ngày 12/12/2018 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Thu Th.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 12/12/2018, trong lúc Nguyễn Thị Ng đang ở nhà tr tại khu 4, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì Ng nảy sinh ý định mua ma túy đem về sử dụng nên Ng dùng điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có sim số 0364.000639 g i điện thoại cho người nam (không rõ h tên, địa chỉ) có sim số 0384.757470 hỏi mua ma túy với số tiền 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng) thì người nam đồng ý và hẹn Ng đến khu vực vòng xoay An Phú thuộc phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương để giao ma túy. Sau đó, Ng thuê xe ôm Grab đi đến nơi hẹn mua ma túy. Khi đến khu vực vòng xoay An Phú, Ng gặp và đưa cho người nam số tiền 800.000 đồng và người này đưa cho Ng 03 (ba) gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng. Sau khi mua được ma túy, Ng thuê xe ôm đi về ph ng tr của Ng tại khu 4, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Ng lấy 02 (hai) gói nylon bên trong có chứa ma túy cất vào trong bóp và 01 (một) gói nylon bên trong có chứa ma túy bỏ vào túi nylon màu đen rồi nhờ bạn là Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp điều khiển xe mô tô chở Ng đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương khám bệnh. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương thuộc khu 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì Ng và Th gửi xe mô tô tại nhà xe Bệnh viện rồi đi bộ ra khỏi nhà xe thì bị Ph ng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Bình Dương phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Thủ Dầu Một thấy nghi vấn nên kiểm tra phát hiện Ng cầm trên tay túi nylon màu đen, bên trong có 01 (một) gói nylon miệng kéo dính bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng và trong bóp của Ng có 02 (hai) gói nylon miệng kéo dính bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng nên lập biên bản b t người phạm tội quả tang, thu giữ: 01 (một) gói nylon miệng kéo dính bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng; 02 (hai) gói nylon miệng kéo dính bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có sim số 0364.000639.

Ngày 12/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 101/QĐ-CQ.CSĐT trưng cầu Ph ng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương giám định: 01 (một) phong bì thư màu tr ng được niêm phong, có chữ ký của người bị b t Nguyễn Thị Ng, chữ ký cán bộ niêm phong Lê Văn S và đóng dấu niêm phong bằng dấu tr n đỏ của Công an phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bên trong có 03 (ba) gói nylon miệng kéo dính bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng. Ngày 17/12/2018, Ph ng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương có Bản kết luận giám định số 47/MT-PC09 kết luận: 02 (hai) gói nylon miệng kéo dính bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng gửi giám định là ma túy, có tr ng lượng 0,3180 gam (M1), loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon miệng kéo dính bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng gửi giám định là ma túy, có tr ng lượng 0,3059 gam (M2), loại Methamphetamine.

Đối với Nguyễn Thị Thu Th, quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thị Ng cất giấu ma túy trong người thì Th không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có sim số 0364.000639, quá trình điều tra xác định: Điện thoại trên do Nguyễn Thị Ng sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đối với người nam (không rõ h tên, địa chỉ) bán ma túy cho Nguyễn Thị Ng, ngày 05/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một đã có Công văn số 229/CQCSĐT-MT gửi Chi nhánh Viettel Bình Dương xác minh thuê bao số 0384.757470 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.

Cáo trạng số 124/CT-VKS-HS ngày 04/6/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên t a, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ng từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đối với 03 (ba) gói nylon chứa ma túy, tổng tr ng lượng sau giám định 0,3802gam, theo kết luận giám định số 47/MT-PC09 ngày 17/12/2018 là tang vật của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Oppo màu xanh có sim số 0364.000.639 đã thu giữ của bị cáo là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Thị Ng không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, người tham gia tố tụng cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên t a, bị cáo Nguyễn Thị Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản b t người phạm tội quả tang, các lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/12/2018, Nguyễn Thị Ng đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng tr ng lượng 0,6239 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương thuộc khu 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị phát hiện b t quả tang nên hành vi mà bị cáo Nguyễn Thị Ng thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện; xâm phạm đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Hiện nay tội phạm về ma túy đang diễn biến phức tạp, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và ph ng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên t a, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối chiếu với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 03 (ba) gói nylon chứa ma túy, tổng tr ng lượng sau giám định 0,3802gam, theo Kết luận giám định số 47/MT-PC09 ngày 17/12/2018 là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Oppo màu xanh có sim số 0364.000.639 đã thu giữ của bị cáo là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của người nam đã bán may túy cho bị cáo Ng vào ngày 12/12/2018 tại v ng xoay An Phú thuộc phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 260 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ng 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2018.

2. Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký của người bị b t Nguyễn Thị Ng, cán bộ niêm phong Lê Văn S và hình dấu đỏ của Công an phường Hiệp Thành, thành phố Thủ dầu Một, bên trong có 03 (ba) gói nylon chứa ma túy, tổng tr ng lượng sau giám định 0,3802gam, theo Kết luận giám định số 47/MT-PC09 ngày 17/12/2018.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước với 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Oppo màu xanh có sim số 0364.000.639 (không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 133.19 ngày 05/6/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ng phải nộp 200.000đ.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T a tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ