- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyền Thị M cùng đồng phạm phạm tội "MBTPCMT" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu Thơ,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:111/2019/HS-ST Ngày: 18-10-2019 |
NHÂN DANH
Độc
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
lập -
Tự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
do -
Hạnh
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Phúc
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Kiều
Bà Đỗ Thị Xanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2019/QĐXXST-HS ngày 02/10/2019, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị M; Sinh ngày 25/5/1974, tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT: Số nhà 31, phố Vĩnh An, tổ 4, khu 2, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); Chồng: Lại Cao H; có 01 con, sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/3/2011, bị Tòa án quân sự Khu vực 1 – Quân khu 3 xử phạt 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, về tội: “Đánh bạc”. Ngày 29/6/2011, đã thi hành xong phần dân sự. Bị giữ khẩn cấp và bị bắt ngày 20/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
2. Nguyễn Hữu Th; Sinh ngày 19/6/1987, tại huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang. Nơi ĐKNKTT: Khu 4, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Số nhà 32, phố Phan Bội Châu thuộc khu Thọ Xuân, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu B và bà Nguyễn Thị Tr (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù, về tội: “Lưu hành tiền giả”. Ngày 29/11/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Ngày 25/02/2014, đã chấp hành xong phần dân sự. Ngày 04/12/2014 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương. Bị giữ khẩn cấp và bị bắt ngày 20/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
3. Nguyễn Thị Ánh Ng; Sinh ngày 26/8/1995, tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKNKTT: Thôn 1, xã Vĩnh Thực, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Số nhà 32, Phan Bội Châu, khu Thọ Xuân, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng Ng và bà Lê Thị T (đã chết); Chồng: Không, bị cáo có 01 con sinh năm 2013. Tiền án: Ngày 29/6/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 09/04/2018, đã chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không; Bị giữ khẩn cấp và bị bắt ngày 21/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
4. Nguyễn Văn T; Sinh ngày 02/2/1978, tại huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Khu 5, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Khu đô thị Hồng Vận, khu 3, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân H và bà Phạm Thị G; Vợ Phạm Hương G, bị cáo có 03 con. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/4/1999, bị Tòa án nhân dân thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 07/8/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Ngày 07/8/2014, đã thi hành xong phần dân sự. Ngày 24/12/2014, chấp hành xong hình phạt tù. Bị giữ khẩn cấp và bị bắt ngày 04/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
*Những người bào chữa cho các bị cáo:
1. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị M:
Ông Vũ Long, Luật sư Văn phòng luật sư Vũ Long - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh
Quảng Ninh .
2. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Th:
Ông Đào Bá Yên, Luật sư Văn phòng Luật sư Ánh Anh - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: cháu Lại Minh Th, sinh năm 2002 (con gái của bị cáo M).
Địa chỉ: Tổ 4, khu 2, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 20 phút, ngày 04/3/2019, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an phường Ka Long, thành phố Móng Cái tiến hành kiểm tra chỗ ở của Nguyễn Văn T tại khu đô thị Hồng Vận thuộc khu 3, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh thu giữ:
- 01 khay nhôm kích thước (5x15x30)cm, trong chứa 284,02 gam chất bột màu vàng nhạt dạng cục, trong đó giám định có 9,939 gam ma túy Heroine;
- 01 túi nilon màu trắng kích thước (24x40)cm, bên trong chứa 225,22 gam chất bột màu vàng nhạt, trong đó giám định có: 0,011 gam ma túy Methamphetamine; 0,22 gam ma túy Ketamine; 3,378 gam ma túy Heroine;
- 01 hộp nhựa màu trắng bên ngoài có chữ SONG LONG PLASTIC trong chứa 274,74 gam chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu vàng bên trong chứa 179,56gam chất bột màu trắng ngà; 77 vỉ thuốc TIFFY (loại 1 vỉ 4 viên) có tổng khối lượng 177,408 gam; 01 chai nhựa màu trắng loại 500ml, bên ngoài có chữ “dấm gạo nếp”, bên trong chứa 500ml chất lỏng màu trắng; 01 chai nhựa mầu trắng có nắp màu hồng, bên ngoài vỏ chai có chữ “Yi kou”, bên trong chứa 750ml chất lỏng màu trắng; 01 chai nhựa loại chai Lavie 1,5 lít, bên trong chứa 200ml chất lỏng màu trắng - kết quả giám định không có chất ma túy.
(Các Kết luận giám định: số 274/GĐMT, ngày 07/3/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; số 1237/C09-TT2, ngày 11/3/2019 và số 1237A/C09-TT2, ngày 09/04/2019, của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an - BL số 14, 142-145).
Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ: 02 chai nhựa màu trắng loại 500ml bên trong một chai chứa chất lỏng màu trắng, một chai chứa chất lỏng màu nâu; 01 ca nhựa màu trắng có dính chất bột màu vàng; 01 máy sấy tóc màu đen; 01 khay nhựa màu trắng dính chất bột mầu vàng; 01 hộp xay đồ bằng kim loại hình tròn màu trắng bạc; 01 cân điện tử màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng lắp sim 0966.221.978 (bút lục số 14).
01 khẩu súng dài khoảng 1,1m có nòng bằng kim loại, báng súng bằng gỗ. kết quả giám định là súng hơi tự chế cỡ nòng 5,5mm, không phải là vũ khí quân dụng và còn sử dụng được. (Kết luận giám định số: 10, ngày 14/3/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh). (Bút lục số 14, 153).
Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra đã mở rộng điều tra. Tiếp đó, vào hồi 10 giờ 05 phút, ngày 20/3/2019, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp Công an phường Hải Hòa tiến hành kiểm tra chỗ ở của Nguyễn Thị M tại khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Thu giữ:
- Dưới sàn nhà cạnh giường ngủ trong phòng ngủ tầng 1: 01 hộp gỗ màu trắng loại hộp đựng kính, trên mặt hộp in chữ VERSACE kích thước (20x10x6)cm bên trong có:
+ 01 túi nilon màu trắng, kích thước (16x12)cm trong chứa chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định có khối lượng 40,95gam ma túy Methamphetamine;
+ 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa 155 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, trên một mặt đều in chìm chữ WY, kết quả giám định có tổng khối lượng 15,644 gam ma túy Methamphetamine;
- Tại hốc kê tủ trong phòng ngủ tầng 1: 01 túi nilon màu trắng, kích thước (30x25)cm, bên trong chứa 161,234 gam chất bột màu vàng, kết quả giám định trong có: 0,854 gam ma túy MDMA; 0,225 gam ma túy Ketamine; 0,419 gam ma túy Heroine;
- Trong tủ lạnh đặt tại phòng khách: 01 hộp hình trụ tròn màu đỏ, có nắp hai đầu bằng kim loại trắng, bên trong chứa 330,056 gam chất bột màu vàng; kết quả giám định trong có: 0,66 gam MDMA; 0,132 gam Ketamine; 1,32 gam Methamphetamine; không xác định được định lượng AMB-FUBINACA;
- 02 túi nilon màu trắng kích thước (3x3)cm chứa tổng 1,103 gam chất tinh thể màu trắng; 05 túi nilon màu trắng kích thước (10x06)cm chứa tổng cộng 71,427 gam chất bột màu xanh - Kết quả giám định: Không có chất ma túy.
(Các Kết luận giám định: số 286/GĐMT, ngày 27/3/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; số 2034/C09-TT2, ngày 31/5/2019, của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an–bút lục số 15, 16,149,150,151A,151B).
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của M: 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh vùng biên giới mang tên Nguyễn Thị M; 79 vỏ túi nilon mầu đỏ, bạc, vàng, đỏ đen; 01 cân điện tử mầu xanh; 04 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, OPPO, Nokia, SAMSUNG; 1 quyển vở ghi có 07 trang ghi chữ và số (bút lục số 16).
Căn cứ vật chứng thu giữ và lời khai của Nguyễn Thị M, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Quảng Ninh ra Lệnh bắt người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu Th và Nguyễn Thị Ánh Ng. Khám xét khẩn cấp người, nơi ở của Th và Ng thu giữ:
- Trong túi quần phía sau bên phải đang mặc của Thơ: 01 cục sạc điện thoại dự phòng trong có 11 túi nilon màu trắng, chứa chất tinh thể mầu trắng. Kết quả giám định có tổng khối lượng 8,791 gam ma túy Methamphetamine;
- Trong phòng ngủ của Thơ: 02 túi nilon màu trắng, kích thước (4x4)cm bên trong chứa chất bột màu hồng bị vỡ vụn, kết quả giám định có tổng khối lượng 2,58 gam ma túy Methamphetamine;
(Kết luận giám định số 286/GĐMT, ngày 27/03/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh – bút lục số 22, 149, 150).
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu của Th: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 cân điện tử màu trắng bạc, 01 sổ ghi chép có 12 trang ghi chữ và số; Thu của Ng: 01 thẻ căn cước công dân, 01 sổ thông hành nhập xuất cảnh, 01 thẻ Ngân hàng Vietcombank, 03 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, Nokia. (Bút lục số 22).
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của các bị caó như sau:
1) Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán của Nguyễn Văn T:
Thông qua các clip phát tán trên mạng xã hội, T biết và nảy sinh ý định pha chế Heroine với các chất phụ gia làm ma túy “trà sữa” bán kiếm lời. Khoảng đầu tháng 3/2019, T mua 5 chỉ Heroine với giá 15.000.000 đồng của Bàng Văn T – sinh năm 1986, trú tại: khu 5, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái (hiện T vắng mặt tại địa phương) về pha trộn với một số loại hợp chất khác như: thuốc Panadoextra; asitton và hợp chất cây cần sa mục đích để bán kiếm lời. Ngày 03/3/2019, Tuấn đưa cho Nguyễn Thị M 100 gam nhờ M bán hộ. Ngày 04/3/2019, M nhắn tin báo cho T biết khách chê ma túy đắng, sử dụng không phê, nên trả lại cho T, nhưng T chưa kịp đến lấy về thì bị Công an bắt.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy T đã bán và tàng trữ để bán là: 13,736 gam Heroine; 0,011gam Methamphetamine; 0,22 gam Ketamine.
2. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thị Ánh Ng và tàng trữ ma túy mục đích để bán của Nguyễn Hữu Th:
2.1.Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thị Ánh Ngt :
Đầu tháng 12/2018, Th và Ng sống với nhau như vợ chồng tại nhà trọ số 32, phố Phan Bội Châu, thuộc phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái. Thơ mua ma túy rồi về chia nhỏ giấu dưới gầm giường rồi cùng Ng bán lẻ cho nhiều người kiếm lời. Số tiền thu được,Th quản lý để chi tiêu sinh hoạt chung và tiếp tục mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Từ tháng 02/2019 đến ngày 20/3/2019, Th đã mua nhiều loại ma túy như: Methamphetamine, Ketamine, đông trùng, thuốc lắc...để bán, cụ thể:
Cuối tháng 02/2019, Th mua của đối tượng tên Th người Hà Nội (không rõ lai lịch, địa chỉ) 30 gam Ketamine với giá 36.000.000 đồng. Th và Ng sử dụng 08 gam, bán 22 gam trong đó Th bán lẻ cho khách 02 gam, ngày 01/3/2019 Th và Ng mang đến nhà Nguyễn Thị M bán cho M 20 gam Ketamine với giá 30.000.000 đồng. M trả trước cho Th 19.400.000 đồng; số còn lại ngày 03/3/2019, M ra hiệu vàng Kim Liên tại phố Hùng Vương, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái chuyển vào tài khoản Ngân hàng Vietcombank của Ng 10.600.000 đồng.
Ngày 05/3/2019, Th và Nguyệt đến nhà M. M nhờ Th lên Hà Nội mua giúp 100 gam Ketamine, Th đồng ý và yêu cầu M đưa tiền trước. Ngày 07/3/2019, M ra hiệu vàng Kim Liên chuyển vào tài khoản Ngân hàng của Ng hai lần tổng cộng 42.000.000 đồng. Ng rút tiền đưa cho Th. Th cầm tiền đến khu vực Bệnh viện đa khoa Nông Nghiệp thuộc xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì mua của Th 30 gam Ketamine với giá 36.000.000 đồng và 10 gam ma túy đá với giá 5.000.000 đồng; Hồi 03 giờ ngày 09/3/2019, tại phòng trọ của mình, Th bán cho M 30 gam Ketamine với giá 45.000.000 đồng và 05 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 5.000.000đồng. 05 gam ma túy đá còn lại, Th và N sử dụng hết.
Ngoài ra, các ngày 17, 18 và 20/02/2019, tại thành phố Móng Cái, Th mua của Nguyễn Văn D – sinh năm 1987, trú tại: khu 2, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái (hiện D vắng mặt tại địa phương) tổng cộng 60 gam ma túy đá với giá 30.000.000 đồng. Th và Ng sử dụng 10 gam; số còn lại Th mang bán hoặc cùng Ng bán cho nhiều người, cụ thể:
+ Ngày 03/3/2019, Th bán cho M 10 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 7.000.000 đồng.
+ Ngày 16/3/2019, Th bán cho Đặng Thị Bích Ng – sinh năm 1997, trú tại: khu Thọ Xuân, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái 03 lần, tổng cộng 15 gam Methamphetamine với số tiền 12.000.000 đồng. Ng khai mua sử dụng.
+ Cuối tháng 02/2019, tại khu vực khách sạn Lợi Lai, phường Ka Long, Th và Ng bán cho Lê Văn Q 01 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 1.000.000 đồng.
+ Khoảng 20 giờ ngày 15/3/2019, tại phường Hòa Lạc, Th và Ng bán cho Phạm Văn T 0,5 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 500.000đ.
+ Khoảng 17 giờ ngày 06/3/2019 và 16 giờ ngày 16/3/2019, tại phường Hòa Lạc, Th và Ng bán cho Thế A (tên gọi khác: Gà, không rõ địa chỉ) 0,2 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 300.000 đồng và 0,5 gam Methamphetamine với giá 500.000 đồng.
Ngày 03/3/2019, Th bán cho M 06 gam ma túy đông trùng với số tiền 800.000đ/gam và 09 viên thuốc lắc. M sử dụng toàn bộ số ma túy này pha trộn vào hỗn hợp do T đưa nhằm mục đích để bán đã bị Cơ quan Công an thu giữ, kết quả giám định có 1,514gam MDMA.
2.2. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán của Nguyễn Hữu Th:
Khoảng 12 giờ, ngày 20/3/2019, tại khu vực cổng khách sạn Lợi Lai, Th mua của người tên M nhà ở Tiên Yên 15 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 7.500.000đồng. M còn cho Th 01 túi ma túy hồng phiến. Th và Ng sử dụng một phần ma túy đá, số còn lại Th chia nhỏ thành 11 túi giấu trong người cùng với số ma túy hồng phiến được M cho mục đích để bán. Song Th chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện, thu giữ. Kết quả giám định có khối lượng 11,371 gam Methamphetamine.
Như vậy, khối lượng ma túy Nguyễn Hữu Th đã bán và tàng trữ để bán trái phép là: 43,571 gam Methamphetamine; 1,514 gam MDMA; 52 gam Ketamine.
Khối lượng ma túy Nguyễn Thị Ánh Ng giúp sức cho Thơ bán trái phép: 50 gam Ketamine và 7,2 gam Methamphetamine.
Ngoài ra, Th và Ng còn khai: Ngày 11 và ngày 15/02/2019, Th và Ng cùng đi Hà Nội mua của Th 42 gam ma túy đá và 05 gam Ketamine. Th đã bán 28 gam ma túy đá và 05 gam Ketamine cho người không quen biết. Th còn khai: Ngày 19/02/2019, Th mua của A Sinh (người Trung Quốc) 300 viên thuốc lắc logo in hình “ngôi sao 5 cánh” và 50 gam “ma túy đông trùng” với giá 66.000.000 đồng. Th sử dụng hết 16 gam ma túy đông trùng. Còn lại Th bán cho D (ở Uông Bí) 200 viên thuốc lắc với giá 30.000.000 đồng và 20 gam “ma túy đông trùng” với giá 16.000.000 đồng; gửi xe khách bán cho L ở thành phố Uông Bí 08 gam “ma túy đông trùng” với giá 6.400.000 đồng. Bán lẻ cho nhiều người khác không rõ lai lịch, địa chỉ hết 91 viên thuốc lắc. Tuy nhiên, ngoài lời khai của các bị can, không có chứng cứ nào khác để chứng minh. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với Th về việc bán lượng ma túy này.
2. Hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán của Nguyễn Thị M:
Trong thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 3/2019, M đã nhiều lần mua ma túy của nhiều người (trong đó có mua của Th và Ng) để bán lẻ kiếm lời, cụ thể:
Lần thứ nhất : Giữa tháng 10/2018, tại nhà trọ của M ở khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, M mua của đối tượng tên H nhà ở xã Bình Khê, thị xã Đông Triều (không rõ lai lịch, địa chỉ) 50 gam ma túy đá với giá 30.000.000 đồng; 30 viên thuốc lắc giá 10.500.000 đồng; 150 viên hồng phiến với giá 6.000.000 đồng. M sử dụng hết 35 gam ma túy đá, còn 15 gam ma túy đá M dùng cân điện tử, chia thành các túi nhỏ lượng từ 0,3 gam đến 0,7 gam bán lẻ cho một số người không quen biết tại Móng Cái với giá từ 500.000 đồng đến 1.200.000đ/túi. Trong đó, tháng 11/2018, M bán cho Nguyễn Thị Ánh Ng 03 lần, mỗi lần 0,3 gam với giá 500.000 đồng để Ng sử dụng.
Riêng số ma túy hồng phiến, M khai: bán cho H và H với giá 55.000đ/viên; thuốc lắc bán cho T DJ với giá 400.000đ/viên. Các đối tượng H, H, T hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ, nên chưa làm rõ được. Do đó chưa đủ căn cứ xử lý M về hành vi bán trái phép lượng ma túy thuốc lắc này.
Lần thứ hai: Khoảng 7 giờ ngày 10/01/2019, tại nhà M, M đã mua của người tên “Hoàn” ở xã Bình Khê thị xã Đông Triều (không rõ lai lịch, địa chỉ) 600 viên ma túy hồng phiến với giá 7.500.000đ/200 viên. M khai đã bán 345 viên, trong đó bán cho Th 10 viên = 1 gam (Th khai phù hợp). M khai còn bán cho các đối tượng H, H và một số người khác với giá 55.000đ/viên (nhưng không làm rõ được). Còn lại 155 viên = 15,644 gam Methamphetamine mục đích để bán nhưng M chưa bán được thì bị Công an thu giữ khi khám xét nơi ở của M.
Lần thứ ba: Ngày 01/3/2019, sau khi mua được 20 gam ma túy Ketamine của Th, M lấy ra 08 gam chia thành các túi nhỏ bán cho Lê Văn Q – sinh năm 1992, trú tại: khu 4, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái và Phạm Văn T – sinh năm 1990, trú tại: khu 4, phường Bình Ngọc, thành phố Móng Cái (hiện Q và T vắng mặt tại địa phương). Còn 12 gam M trộn lẫn với 100 gam chất bột hỗn hợp màu vàng có chứa thành phần ma túy do T đưa để bán nhưng chưa kịp bán thì bị bắt (Theo Kết luận giám định, trong hợp chất bị thu giữ chỉ có 0,357 gam ma túy Ketamine).
Tổng số ma túy M đã bán trong lần này là 8,357 gam ma túy Ketamine.
Lần thứ tư: Sau khi nhận được thông tin từ Th đã mua được ma túy cho M, khoảng 03 giờ ngày 09/3/2019, M đi taxi đến nhà trọ của Th nhận 30 gam Ketamine với giá 45.000.000đồng và 05 gam ma túy đá với giá 5.000.000 đồng. M sử dụng hết 5gam ma túy đá. Còn khối lượng ma túy Ketamine, M chia nhỏ và đã bán cho T DJ, C, Phạm Văn T, Lê Văn Q, còn một ít M để tại nhà mục đích để bán. Kiểm tra nơi ở của M, Cơ quan Công an thu giữ 02 túi nilon chứa tổng cộng 1,103 gam chất tinh thể màu trắng, M khai là số ma túy Ketamine còn lại trong tổng số 30 gam mua của Th. Kết luận giám định số 2034, ngày 31/5/2019, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định không chứa thành phần ma túy. Tuy nhiên, về ý thức chủ quan của các bị can về việc mua bán trên của Th, Ng, M đều xác định là ma túy Ketamine, nên M phải chịu trách nhiệm hình sự về việc bán trái phép 30 gam ma túy Ketamine.
Lần thứ 5: Ngày 14/3/2019, M mua của L 50 gam ma túy đá với giá 25.000.000 đồng. M khai đã sử dụng hết gần 05 gam, đã bán 05 gam cho Lê Văn Q (hiện vắng mặt tại địa phương), số còn lại 40,95 gam Methamphetamine mục đích để bán nhưng chưa bán được thì bị Công an thu giữ.
Ngoài ra, cũng trong đầu tháng 3/2019, M mua của Th 10 gam ma túy đá với giá 7.000.000 đồng, 06 gam ma túy đông trùng với số tiền 800.000đ/gam, 9 viên thuốc lắc. M đã sử dụng 01 gam ma túy đá. Còn 09 gam ma túy đá, 9 viên thuốc lắc và 06 gam ma túy đông trùng, M pha vào hỗn hợp chất màu vàng của T đưa bán, mục đích để bán nhưng chưa bán được thì bị Công an thu giữ, tổng khối lượng 491,29 gam hỗn hợp chất màu vàng. Tuy nhiên kết quả giám định kết luận trong khối lượng 491,29 gam trên chỉ có: 1,32 gam Methamphetamine; 1,514gam MDMA; 0,357 gam ma túy Ketamine; 0,419gam Heroine.
Như vậy, tổng khối lượng Nguyễn Thị M bán trái phép và tàng trữ mục đích để bán là: 73,914 gam Methamphetamine; 1,154 gam MDMA; 0,419 gam Heroine; 38,357 gam Ketamine.
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thị Ánh Ng, Nguyễn Văn T, đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên (Bút lục số 293-312, 328-351, 355-372, 380-389).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Lại Minh Th trình bày: Cháu là con gái của Nguyễn Thị M. Việc mẹ cháu mua bán và sử dụng ma túy, cháu không biết và mẹ cháu cũng không nói. Trong quá trình kiểm tra nhà Nguyễn Thị M ngày 20/3/2019, cháu bị công an thu giữ 01 điện thoại Samsung màu đen. Đây là chiếc điện thoại cháu được mẹ tặng nhân dịp sinh nhật ngày 17/6/2019. Cháu đề nghị cơ quan điều tra xem xét, tạo điều kiện trả lại cháu chiếc điện thoại Samsung đã bị thu giữ.
Với hành vi trên, tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKSQN-P1 ngày 12/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thị Ánh Ng, Nguyễn Văn T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trong đó hành vi của Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Th theo điểm h, khoản 3; hành vi của Nguyễn Thị Ánh Ng theo các điểm: b, p, khoản 2; hành vi của Nguyễn Văn T theo điểm p, khoản 2 – Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thị Ánh Ng có lời khai tương tự quá trình điều tra, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm h, khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị M từ 17 đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/3/2019. Buộc bị cáo Nguyễn Thị phải nộp 25.000.0000đ, do mua bán ma túy mà có sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm h, khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Hữu Th từ 16 đến 17 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/3/2019. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Th phải nộp 26.000.0000đ, do mua bán ma túy mà có sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm b, p, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị Ánh Ng từ 10 đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/3/2019.
Áp dụng điểm p, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Văn T từ 9 đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 04/3/2019.
Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
* Luật sư bào chữa cho các bị cáo có quan điểm bào chữa như sau:
Luật sư Vũ Long, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị M nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, t, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt.
Luật sư Đào Bá Yên, bào chưa cho bị cáo Nguyễn Hữu Th cho rằng, cần áp dụng cho bị cáo Thơ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, và điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì có thái độ khai báo rất thành khẩn và còn khai báo cả hành vi chưa bị phát hiện; và không đủ căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình đối đáp, đại diện Viện kiểm sát chỉ chấp nhận áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả hai bị cáo M và Th.
Nói lời sau cùng, các bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Các luật sư đều đồng tình với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ, để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian tháng 10, 11 năm 2018 và trong tháng 02, 03 năm 2019, tại địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh:
- Nguyễn Thị M có hành vi nhiều lần bán và tàng trữ nhằm mục đích để bán trái phép: 73,914 gam Methamphetamine; 1,514 gam MDMA; 0,419g Heroine; 38,357 gam Ketamine là chất ma túy ở thể rắn.
- Nguyễn Hữu Th nhiều lần bán và tàng trữ nhằm mục đích để bán trái phép: 43,571 gam Methamphetamine; 1,514 gam MDMA; 52 gam Ketamine.
- Nguyễn Thị Ánh Ng đã 05 lần giúp sức cho Thơ bán trái phép 50 gam Ketamine và 7,2 gam Methamphetamine.
- Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ nhằm mục đích để bán: 13,736 gam Heroine; 0,011 gam Methamphetamine; 0,22 gam Ketamine. Tổng khối lượng của 03 chất ma túy là 13,967 gam.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Th đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h, khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Ánh Ng đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, p, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
... b) Phạm tội 02 lần trở lên;
p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
... h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng và chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Ma túy là loại độc dược không những hủy hại sức khỏe của người sử dụng, mà còn gây tác hại nhiều mặt trong đời sống xã hội và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Các bị cáo đã mua bán ma túy với số lượng lớn, diễn ra nhiều lần. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, để đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa.
Xét hành vi và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá vai trò của từng bị cáo như sau:
Nguyễn Thị M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán và mua bán ma túy với vai trò độc lập, số lượng ma túy lớn, giữ vai trò đầu vụ. Sau M là Nguyễn Hữu Th cũng mua bán ma túy với số lượng lớn ; Tiếp đến là Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán với vai trò độc lập, mua heroine về điều chế để bán ở dạng trà sữa nhưng chưa bán được; Còn Nguyễn Thị Ánh Ng, chỉ là người giúp sức cho Thơ trong việc mua bán ma túy, nên giữ vai trò sau cùng.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Th phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Ng có một tiền án, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều khai báo thành khẩn nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị M có bố là người có công với cách mạng được tặng thưởng nhiều huân huy chương, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Hữu Th được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về việc truy thu số tiền thu lời bất chính:
Quá trình điều tra xác định các bị cáo hưởng lợi từ việc mua bán ma túy như sau:
- Bị cáo Nguyễn Thị M thu lợi 25.000.000đ.
- Bị cáo Nguyễn Hữu Th thu lời 26.000.000đ.
Đây là tiền các bị cáo được hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy, cần buộc các bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
Đối với số lượng ma túy mà các bị cáo khai đã bán cho nhiều khách lẻ, do không xác định được số lượng, giá cả cụ thể và các đối tượng đã mua bán, một phần cũng bị thu giữ, nên không có cơ sở để truy thu số tiền các bị cáo được hưởng lợi ở những lần mua bán ma túy này.
Về vật chứng của vụ án:
- Vật chứng là ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại Nokia của anh Lê Kim Hoàn đã trả lại nên không đề cập.
- Đối với điện thoại thu giữ của các bị cáo gồm: 01 điện thoại Iphone của Nguyễn Văn T, 01 điện thoại Iphone và 01 điện thoại Oppo của Nguyễn Thị M, 01 điện thoại SAMSUNG của Nguyễn Hữu Th, 02 điện thoại Iphone của Nguyễn Thị Ánh Ng, là điện thoại mà các bị cáo dùng để liên lạc mua bán, tàng trữ ma túy cần tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại SAMSUNG của cháu Lại Minh Th; 01 điện thoại Nokia, 01 thẻ căn cước công dân, 01 sổ thông hành, 01 thẻ ngân hàng Vietcombank của Nguyễn Thị Ánh Ng; 01 Giấy thông hành xuất nhập cảnh của Nguyễn Thị M, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo M, Ng và cháu Th.
- Đối với 01 khẩu súng tự chế thu giữ của Nguyễn Văn T: cần tịch thu, giao cho Công an tỉnh Quảng Ninh xử lý theo quy định của pháp luật.
- Các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Các đối tượng: Hoàn ở Đông Triều, Luân ở Uông Bí, A Sinh người Trung Quốc, Thế ở Hà Nội, Mạnh ở Tiên Yên là người bán ma túy cho các bị cáo, không xác định được lai lịch, địa chỉ; Nguyễn Văn D, Bàng Văn T là người bán ma túy cho các bị cáo, vắng mặt tại địa phương; Lê Văn Q, Phạm Văn T là người mua ma túy của các bị cáo vắng mặt tại địa phương; Các đối tượng Hưng, Hạnh, Dương, Long, Tuấn, Cường, Thế Anh ... không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thị Ánh Ng, Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-Về hình phạt:
1. Áp dụng điểm h khoản 3 điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52 – Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 16 (Mười sáu) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/03/2019.
2. Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251 Điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 – Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Th 15 (Mười lăm) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/03/2019.
3. Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 9 (Chín) năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 04/03/2019.
4. Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 - Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh Ng 8 (Tám) năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/03/2019.
-Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Buộc Bị cáo Nguyễn Thị M phải nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội là 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng), bị cáo Nguyễn Hữu Th phải nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội là 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước các điện thoại: 01 điện thoại Iphone màu vàng của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại Iphone màu vàng và 01 điện thoại Oppo màu đen của Nguyễn Thị Minh; 01 điện thoại SAMSUNG của Nguyễn Hữu Th; 01 điện thoại Iphone màu đen, 01 điện thoại Iphone màu hồng của Nguyễn Thị Ánh Ng.
Trả lại cháu Lại Minh Th 01 điện thoại Samsung màu đen + 01 sim.
Trả lại Nguyễn Thị Ánh Ng 01 thẻ căn cước công dân, 01 sổ thông hành, 01 thẻ ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Thị Ánh Ng, 01 điện thoại Nokia màu vàng.
Trả lại Nguyễn Thị M 01 Giấy thông hành xuất nhập cảnh mang tên Nguyễn Thị .
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 286/GĐMT, (số 01), số 2034/C09 (TT2) và 02 hộp niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 274/GĐMT (số 02, bên trong có 01 khay nhựa; 01 ca nhựa màu trắng), số 1237/C09-TT2; 155 vỏ túi nylon các loại; 03 cân điện tử; 01 hộp hình trụ tròn màu đỏ hai bên có nắp kim loại màu trắng; 01 khay nhôm; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 thân máy say sinh tố; 01 máy sấy tóc; 01 hộp say đồ bằng kim loại và 06 sim điện thoại.
Tịch thu, giao cho Công an tỉnh Quảng Ninh 01 khẩu súng (dạng súng hơi tự chế) dài 1,1 mét, thân súng có ghi chữ “Fxairguns”, báng súng bằng gỗ màu nâu, gắn ống ngắm có ghi “Bushnell 3-9x32EG”, để xử lý theo quy định của pháp luật.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Quảng Ninh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thị Ánh Ng, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Người tham gia tt;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh QN;
- Công an tỉnh QN;
(đã ký)
- Trại tạm giam Công an tỉnh QN;
- THA, Lưu VP, hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số:111/2019/HS-ST Ngày: 18-10-2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Kiều
Bà Đỗ Thị Xanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh mở phiên
tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2019/QĐXXST-HS ngày 02/10/2019, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Minh; Sinh ngày 25/5/1974, tại thành phố Móng Cái, tỉnh
Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT: Số nhà 31, phố Vĩnh An, tổ 4, khu 2, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Lý (đã chết) và bà Trần Thị Tân (đã chết); Chồng: Lại Cao Hùng; có 01 con, sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/3/2011, bị Tòa án quân sự Khu vực 1 – Quân khu 3 xử phạt 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, về tội: “Đánh bạc”. Ngày 29/6/2011, đã thi hành xong phần dân sự. Bị giữ khẩn cấp và bị bắt ngày 20/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
2. Nguyễn Hữu Thơ; Sinh ngày 19/6/1987, tại huyện Tân Yên tỉnh Bắc
Giang. Nơi ĐKNKTT: Khu 4, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Số nhà 32, phố Phan Bội Châu thuộc khu Thọ Xuân, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu Bảo và bà Nguyễn Thị Trang (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù, về tội: “Lưu hành tiền giả”. Ngày 29/11/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Ngày 25/02/2014, đã chấp hành xong phần dân sự. Ngày 04/12/2014 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương. Bị giữ khẩn cấp và bị bắt ngày 20/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
3. Nguyễn Thị Ánh Nguyệt; Sinh ngày 26/8/1995, tại thành phố Móng Cái,
tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKNKTT: Thôn 1, xã Vĩnh Thực, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Số nhà 32, Phan Bội Châu, khu Thọ Xuân, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng Ngọc và bà Lê Thị Tài (đã chết); Chồng: Không, bị cáo có 01 con sinh năm 2013. Tiền án: Ngày 29/6/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 09/04/2018, đã chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không; Bị giữ khẩn cấp và bị bắt ngày 21/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
4. Nguyễn Văn Tuấn; Sinh ngày 02/2/1978, tại huyện Kiến Thụy, thành phố
Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Khu 5, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Khu đô thị Hồng Vận, khu 3, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân Hòa và bà Phạm Thị Giang; Vợ Phạm Hương Giang, bị cáo có 03 con. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/4/1999, bị Tòa án nhân dân thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 07/8/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Ngày 07/8/2014, đã thi hành xong phần dân sự. Ngày 24/12/2014, chấp hành xong hình phạt tù. Bị giữ khẩn cấp và bị bắt ngày 04/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
*Những người bào chữa cho các bị cáo:
1. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Minh:
Ông Vũ Long, Luật sư Văn phòng luật sư Vũ Long - thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Quảng Ninh .
2. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Thơ:
Ông Đào Bá Yên, Luật sư Văn phòng Luật sư Ánh Anh - thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Quảng Ninh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: cháu Lại Minh Thương, sinh năm
2002 (con gái của bị cáo Minh).
Địa chỉ: Tổ 4, khu 2, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh,
có mặt.
* Người làm chứng:
Họ và tên: Đặng Thị Bích Ngọc, sinh năm: 1977
Địa chỉ: khu Thọ Xuân, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng
Ninh, vắng mặt.
* Những người chứng kiến:
- Họ và tên: Phạm Hương Giang.
Địa chỉ: Khu 3, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Họ và tên:Phạm Văn Quang.
Địa chỉ:Khu 4, phường Bình Ngọc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Họ và tên: Lê Kim Hoàn.
Địa chỉ: Tổ 1, khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Họ và tên: Đặng Chí Thành.
Địa chỉ: Khu 2, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Họ và tên:Lưu Xuân Thủy.
Địa chỉ: Khu 3, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
(Tất cả những người chứng kiến đều vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 20 phút, ngày 04/3/2019, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra
tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an phường Ka Long, thành phố Móng Cái tiến hành kiểm tra chỗ ở của Nguyễn Văn Tuấn tại khu đô thị Hồng Vận thuộc khu 3, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh thu giữ:
- 01 khay nhôm kích thước (5x15x30)cm, trong chứa 284,02 gam chất bột
màu vàng nhạt dạng cục, trong đó giám định có 9,939 gam ma túy Heroine;
- 01 túi nilon màu trắng kích thước (24x40)cm, bên trong chứa 225,22 gam
chất bột màu vàng nhạt, trong đó giám định có: 0,011 gam ma túy Methamphetamine; 0,22 gam ma túy Ketamine; 3,378 gam ma túy Heroine;
- 01 hộp nhựa màu trắng bên ngoài có chữ SONG LONG PLASTIC trong
chứa 274,74 gam chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu vàng bên trong chứa 179,56gam chất bột màu trắng ngà; 77 vỉ thuốc TIFFY (loại 1 vỉ 4 viên) có tổng khối lượng 177,408 gam; 01 chai nhựa màu trắng loại 500ml, bên ngoài có chữ “dấm gạo nếp”, bên trong chứa 500ml chất lỏng màu trắng; 01 chai nhựa mầu trắng có nắp màu hồng, bên ngoài vỏ chai có chữ “Yi kou”, bên trong chứa 750ml chất lỏng màu trắng; 01 chai nhựa loại chai Lavie 1,5 lít, bên trong chứa 200ml chất lỏng màu trắng
- kết quả giám định không có chất ma túy.
(Các Kết luận giám định: số 274/GĐMT, ngày 07/3/2019, của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; số 1237/C09-TT2, ngày 11/3/2019 và số 1237A/C09-TT2, ngày 09/04/2019, của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an - BL số 14, 142-145).
Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ: 02 chai nhựa màu trắng loại 500ml
bên trong một chai chứa chất lỏng màu trắng, một chai chứa chất lỏng màu nâu; 01 ca nhựa màu trắng có dính chất bột màu vàng; 01 máy sấy tóc màu đen; 01 khay nhựa màu trắng dính chất bột mầu vàng; 01 hộp xay đồ bằng kim loại hình tròn màu trắng bạc; 01 cân điện tử màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng lắp sim 0966.221.978 (bút lục số 14).
01 khẩu súng dài khoảng 1,1m có nòng bằng kim loại, báng súng bằng gỗ. kết
quả giám định là súng hơi tự chế cỡ nòng 5,5mm, không phải là vũ khí quân dụng và còn sử dụng được. (Kết luận giám định số: 10, ngày 14/3/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh). (Bút lục số 14, 153).
Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn Tuấn, Cơ quan điều tra đã mở rộng điều tra.
Tiếp đó, vào hồi 10 giờ 05 phút, ngày 20/3/2019, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp Công an phường Hải Hòa tiến hành kiểm tra chỗ ở của Nguyễn Thị Minh tại khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Thu giữ:
- Dưới sàn nhà cạnh giường ngủ trong phòng ngủ tầng 1: 01 hộp gỗ màu trắng
loại hộp đựng kính, trên mặt hộp in chữ VERSACE kích thước (20x10x6)cm bên trong có:
+ 01 túi nilon màu trắng, kích thước (16x12)cm trong chứa chất tinh thể màu
trắng, kết quả giám định có khối lượng 40,95gam ma túy Methamphetamine;
+ 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa 155 viên nén hình trụ tròn màu đỏ,
trên một mặt đều in chìm chữ WY, kết quả giám định có tổng khối lượng 15,644 gam ma túy Methamphetamine;
- Tại hốc kê tủ trong phòng ngủ tầng 1: 01 túi nilon màu trắng, kích thước
(30x25)cm, bên trong chứa 161,234 gam chất bột màu vàng, kết quả giám định trong có: 0,854 gam ma túy MDMA; 0,225 gam ma túy Ketamine; 0,419 gam ma túy Heroine;
- Trong tủ lạnh đặt tại phòng khách: 01 hộp hình trụ tròn màu đỏ, có nắp hai
đầu bằng kim loại trắng, bên trong chứa 330,056 gam chất bột màu vàng; kết quả giám định trong có: 0,66 gam MDMA; 0,132 gam Ketamine; 1,32 gam Methamphetamine; không xác định được định lượng AMB-FUBINACA;
- 02 túi nilon màu trắng kích thước (3x3)cm chứa tổng 1,103 gam chất tinh
thể màu trắng; 05 túi nilon màu trắng kích thước (10x06)cm chứa tổng cộng 71,427 gam chất bột màu xanh - Kết quả giám định: Không có chất ma túy.
(Các Kết luận giám định: số 286/GĐMT, ngày 27/3/2019, của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; số 2034/C09-TT2, ngày 31/5/2019, của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an–bút lục số 15, 16,149,150,151A,151B).
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Minh: 01 giấy thông hành xuất
nhập cảnh vùng biên giới mang tên Nguyễn Thị Minh; 79 vỏ túi nilon mầu đỏ, bạc, vàng, đỏ đen; 01 cân điện tử mầu xanh; 04 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, OPPO, Nokia, SAMSUNG; 1 quyển vở ghi có 07 trang ghi chữ và số (bút lục số 16).
Căn cứ vật chứng thu giữ và lời khai của Nguyễn Thị Minh, Cơ quan Cảnh
sát điều tra - Công an tỉnh Quảng Ninh ra Lệnh bắt người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu Thơ và Nguyễn Thị Ánh Nguyệt. Khám xét khẩn cấp người, nơi ở của Thơ và Nguyệt thu giữ:
- Trong túi quần phía sau bên phải đang mặc của Thơ: 01 cục sạc điện thoại
dự phòng trong có 11 túi nilon màu trắng, chứa chất tinh thể mầu trắng. Kết quả giám định có tổng khối lượng 8,791 gam ma túy Methamphetamine;
- Trong phòng ngủ của Thơ: 02 túi nilon màu trắng, kích thước (4x4)cm bên
trong chứa chất bột màu hồng bị vỡ vụn, kết quả giám định có tổng khối lượng 2,58 gam ma túy Methamphetamine;
(Kết luận giám định số 286/GĐMT, ngày 27/03/2019, của Phòng Kỹ thuật
hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh – bút lục số 22, 149, 150).
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu của Thơ: 01 điện thoại di động hiệu
Samsung, 01 cân điện tử màu trắng bạc, 01 sổ ghi chép có 12 trang ghi chữ và số; Thu của Nguyệt: 01 thẻ căn cước công dân, 01 sổ thông hành nhập xuất cảnh, 01 thẻ Ngân hàng Vietcombank, 03 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, Nokia. (Bút lục số 22).
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của các bị caó như sau:
1) Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán của Nguyễn Văn Tuấn:
Thông qua các clip phát tán trên mạng xã hội, Tuấn biết và nảy sinh ý định
pha chế Heroine với các chất phụ gia làm ma túy “trà sữa” bán kiếm lời. Khoảng đầu tháng 3/2019, Tuấn mua 5 chỉ Heroine với giá 15.000.000 đồng của Bàng Văn Tiếp – sinh năm 1986, trú tại: khu 5, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái (hiện Tiếp vắng mặt tại địa phương) về pha trộn với một số loại hợp chất khác như: thuốc Panadoextra; asitton và hợp chất cây cần sa mục đích để bán kiếm lời. Ngày 03/3/2019, Tuấn đưa cho Nguyễn Thị Minh 100 gam nhờ Minh bán hộ. Ngày 04/3/2019, Minh nhắn tin báo cho Tuấn biết khách chê ma túy đắng, sử dụng không phê, nên trả lại cho Tuấn, nhưng Tuấn chưa kịp đến lấy về thì bị Công an bắt.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy Tuấn đã bán và tàng trữ để bán là: 13,736
gam Heroine; 0,011gam Methamphetamine; 0,22 gam Ketamine.
2. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Hữu Thơ, Nguyễn
Thị Ánh Nguyệt và tàng trữ ma túy mục đích để bán của Nguyễn Hữu Thơ:
2.1.Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Hữu Thơ, Nguyễn Thị
Ánh Nguyệt :
Đầu tháng 12/2018, Thơ và Nguyệt sống với nhau như vợ chồng tại nhà trọ
số 32, phố Phan Bội Châu, thuộc phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái. Thơ mua ma túy rồi về chia nhỏ giấu dưới gầm giường rồi cùng Nguyệt bán lẻ cho nhiều người kiếm lời. Số tiền thu được,Thơ quản lý để chi tiêu sinh hoạt chung và tiếp tục mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Từ tháng 02/2019 đến ngày 20/3/2019, Thơ đã mua nhiều loại ma túy như: Methamphetamine, Ketamine, đông trùng, thuốc lắc...để bán, cụ thể:
Cuối tháng 02/2019, Thơ mua của đối tượng tên Thế người Hà Nội (không rõ
lai lịch, địa chỉ) 30 gam Ketamine với giá 36.000.000 đồng. Thơ và Nguyệt sử dụng 08 gam, bán 22 gam trong đó Thơ bán lẻ cho khách 02 gam, ngày 01/3/2019 Thơ và Nguyệt mang đến nhà Nguyễn Thị Minh bán cho Minh 20 gam Ketamine với giá 30.000.000 đồng. Minh trả trước cho Thơ 19.400.000 đồng; số còn lại ngày 03/3/2019, Minh ra hiệu vàng Kim Liên tại phố Hùng Vương, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái chuyển vào tài khoản Ngân hàng Vietcombank của Nguyệt 10.600.000 đồng.
Ngày 05/3/2019, Thơ và Nguyệt đến nhà Minh. Minh nhờ Thơ lên Hà Nội
mua giúp 100 gam Ketamine, Thơ đồng ý và yêu cầu Minh đưa tiền trước. Ngày 07/3/2019, Minh ra hiệu vàng Kim Liên chuyển vào tài khoản Ngân hàng của Nguyệt hai lần tổng cộng 42.000.000 đồng. Nguyệt rút tiền đưa cho Thơ. Thơ cầm tiền đến khu vực Bệnh viện đa khoa Nông Nghiệp thuộc xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì mua của Thế 30 gam Ketamine với giá 36.000.000 đồng và 10 gam ma túy đá với giá 5.000.000 đồng; Hồi 03 giờ ngày 09/3/2019, tại phòng trọ của mình, Thơ bán cho Minh 30 gam Ketamine với giá 45.000.000 đồng và 05 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 5.000.000đồng. 05 gam ma túy đá còn lại, Thơ và Nguyệt sử dụng hết.
Ngoài ra, các ngày 17, 18 và 20/02/2019, tại thành phố Móng Cái, Thơ mua
của Nguyễn Văn Dũng – sinh năm 1987, trú tại: khu 2, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái (hiện Dũng vắng mặt tại địa phương) tổng cộng 60 gam ma túy đá với giá 30.000.000 đồng. Thơ và Nguyệt sử dụng 10 gam; số còn lại Thơ mang bán hoặc cùng Nguyệt bán cho nhiều người, cụ thể:
+ Ngày 03/3/2019, Thơ bán cho Minh 10 gam ma túy đá (Methamphetamine)
với giá 7.000.000 đồng.
+ Ngày 16/3/2019, Thơ bán cho Đặng Thị Bích Ngọc – sinh năm 1997, trú
tại: khu Thọ Xuân, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái 03 lần, tổng cộng 15 gam Methamphetamine với số tiền 12.000.000 đồng. Ngọc khai mua sử dụng.
+ Cuối tháng 02/2019, tại khu vực khách sạn Lợi Lai, phường Ka Long, Thơ
và Nguyệt bán cho Lê Văn Quý 01 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 1.000.000 đồng.
+ Khoảng 20 giờ ngày 15/3/2019, tại phường Hòa Lạc, Thơ và Nguyệt bán
cho Phạm Văn Tuyên 0,5 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 500.000đ.
+ Khoảng 17 giờ ngày 06/3/2019 và 16 giờ ngày 16/3/2019, tại phường Hòa
Lạc, Thơ và Nguyệt bán cho Thế Anh (tên gọi khác: Gà, không rõ địa chỉ) 0,2 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 300.000 đồng và 0,5 gam Methamphetamine với giá 500.000 đồng.
Ngày 03/3/2019, Thơ bán cho Minh 06 gam ma túy đông trùng với số tiền
800.000đ/gam và 09 viên thuốc lắc. Minh sử dụng toàn bộ số ma túy này pha trộn vào hỗn hợp do Tuấn đưa nhằm mục đích để bán đã bị Cơ quan Công an thu giữ, kết quả giám định có 1,514gam MDMA.
2.2. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán của Nguyễn
Hữu Thơ:
Khoảng 12 giờ, ngày 20/3/2019, tại khu vực cổng khách sạn Lợi Lai, Thơ mua
của người tên Mạnh nhà ở Tiên Yên 15 gam ma túy đá (Methamphetamine) với giá 7.500.000đồng. Mạnh còn cho Thơ 01 túi ma túy hồng phiến. Thơ và Nguyệt sử dụng một phần ma túy đá, số còn lại Thơ chia nhỏ thành 11 túi giấu trong người cùng với số ma túy hồng phiến được Mạnh cho mục đích để bán. Song Thơ chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện, thu giữ. Kết quả giám định có khối lượng 11,371 gam Methamphetamine.
Như vậy, khối lượng ma túy Nguyễn Hữu Thơ đã bán và tàng trữ để bán trái
phép là: 43,571 gam Methamphetamine; 1,514 gam MDMA; 52 gam Ketamine.
Khối lượng ma túy Nguyễn Thị Ánh Nguyệt giúp sức cho Thơ bán trái phép:
50 gam Ketamine và 7,2 gam Methamphetamine.
Ngoài ra, Thơ và Nguyệt còn khai: Ngày 11 và ngày 15/02/2019, Thơ và
Nguyệt cùng đi Hà Nội mua của Thế 42 gam ma túy đá và 05 gam Ketamine. Thơ đã bán 28 gam ma túy đá và 05 gam Ketamine cho người không quen biết. Thơ còn khai: Ngày 19/02/2019, Thơ mua của A Sinh (người Trung Quốc) 300 viên thuốc lắc logo in hình “ngôi sao 5 cánh” và 50 gam “ma túy đông trùng” với giá 66.000.000 đồng. Thơ sử dụng hết 16 gam ma túy đông trùng. Còn lại Thơ bán cho Dương (ở Uông Bí) 200 viên thuốc lắc với giá 30.000.000 đồng và 20 gam “ma túy đông trùng” với giá 16.000.000 đồng; gửi xe khách bán cho Long ở thành phố Uông Bí 08 gam “ma túy đông trùng” với giá 6.400.000 đồng. Bán lẻ cho nhiều người khác không rõ lai lịch, địa chỉ hết 91 viên thuốc lắc. Tuy nhiên, ngoài lời khai của các bị can, không có chứng cứ nào khác để chứng minh. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với Thơ về việc bán lượng ma túy này.
2. Hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để
bán của Nguyễn Thị Minh:
Trong thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 3/2019, Minh đã nhiều lần mua
ma túy của nhiều người (trong đó có mua của Thơ và Nguyệt) để bán lẻ kiếm lời, cụ thể:
Lần thứ nhất : Giữa tháng 10/2018, tại nhà trọ của Minh ở khu 1, phường
Hải Hòa, thành phố Móng Cái, Minh mua của đối tượng tên Hoàn nhà ở xã Bình Khê, thị xã Đông Triều (không rõ lai lịch, địa chỉ) 50 gam ma túy đá với giá 30.000.000 đồng; 30 viên thuốc lắc giá 10.500.000 đồng; 150 viên hồng phiến với giá 6.000.000 đồng. Minh sử dụng hết 35 gam ma túy đá, còn 15 gam ma túy đá Minh dùng cân điện tử, chia thành các túi nhỏ lượng từ 0,3 gam đến 0,7 gam bán lẻ cho một số người không quen biết tại Móng Cái với giá từ 500.000 đồng đến 1.200.000đ/túi. Trong đó, tháng 11/2018, Minh bán cho Nguyễn Thị Ánh Nguyệt 03 lần, mỗi lần 0,3 gam với giá 500.000 đồng để Nguyệt sử dụng.
Riêng số ma túy hồng phiến, Minh khai: bán cho Hưng và Hạnh với giá
55.000đ/viên; thuốc lắc bán cho Tuấn DJ với giá 400.000đ/viên. Các đối tượng Hưng, Hạnh, Tuấn hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ, nên chưa làm rõ được. Do đó chưa đủ căn cứ xử lý Minh về hành vi bán trái phép lượng ma túy thuốc lắc này.
Lần thứ hai: Khoảng 7 giờ ngày 10/01/2019, tại nhà Minh, Minh đã mua của
người tên “Hoàn” ở xã Bình Khê thị xã Đông Triều (không rõ lai lịch, địa chỉ) 600 viên ma túy hồng phiến với giá 7.500.000đ/200 viên. Minh khai đã bán 345 viên, trong đó bán cho Thơ 10 viên = 1 gam (Thơ khai phù hợp). Minh khai còn bán cho các đối tượng Hưng, Hạnh và một số người khác với giá 55.000đ/viên (nhưng không làm rõ được). Còn lại 155 viên = 15,644 gam Methamphetamine mục đích để bán nhưng Minh chưa bán được thì bị Công an thu giữ khi khám xét nơi ở của Minh.
Lần thứ ba: Ngày 01/3/2019, sau khi mua được 20 gam ma túy Ketamine
của Thơ, Minh lấy ra 08 gam chia thành các túi nhỏ bán cho Lê Văn Quý – sinh năm 1992, trú tại: khu 4, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái và Phạm Văn Tuyên – sinh năm 1990, trú tại: khu 4, phường Bình Ngọc, thành phố Móng Cái (hiện Quý và Tuyên vắng mặt tại địa phương). Còn 12 gam Minh trộn lẫn với 100 gam chất bột hỗn hợp màu vàng có chứa thành phần ma túy do Tuấn đưa để bán nhưng chưa kịp bán thì bị bắt (Theo Kết luận giám định, trong hợp chất bị thu giữ chỉ có 0,357 gam ma túy Ketamine).
Tổng số ma túy Minh đã bán trong lần này là 8,357 gam ma túy Ketamine.
Lần thứ tư: Sau khi nhận được thông tin từ Thơ đã mua được ma túy cho
Minh, khoảng 03 giờ ngày 09/3/2019, Minh đi taxi đến nhà trọ của Thơ nhận 30 gam Ketamine với giá 45.000.000đồng và 05 gam ma túy đá với giá 5.000.000 đồng. Minh sử dụng hết 5gam ma túy đá. Còn khối lượng ma túy Ketamine, Minh chia nhỏ và đã bán cho Tuấn DJ, Cường, Phạm Văn Tuyên, Lê Văn Quý, còn một ít Minh để tại nhà mục đích để bán. Kiểm tra nơi ở của Minh, Cơ quan Công an thu giữ 02 túi nilon chứa tổng cộng 1,103 gam chất tinh thể màu trắng, Minh khai là số ma túy Ketamine còn lại trong tổng số 30 gam mua của Thơ. Kết luận giám định số 2034, ngày 31/5/2019, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định không chứa thành phần ma túy. Tuy nhiên, về ý thức chủ quan của các bị can về việc mua bán trên của Thơ, Nguyệt, Minh đều xác định là ma túy Ketamine, nên Minh phải chịu trách nhiệm hình sự về việc bán trái phép 30 gam ma túy Ketamine.
Lần thứ 5: Ngày 14/3/2019, Minh mua của Luân 50 gam ma túy đá với giá
25.000.000 đồng. Minh khai đã sử dụng hết gần 05 gam, đã bán 05 gam cho Lê Văn Quý (hiện vắng mặt tại địa phương), số còn lại 40,95 gam Methamphetamine mục đích để bán nhưng chưa bán được thì bị Công an thu giữ.
Ngoài ra, cũng trong đầu tháng 3/2019, Minh mua của Thơ 10 gam ma túy đá
với giá 7.000.000 đồng, 06 gam ma túy đông trùng với số tiền 800.000đ/gam, 9 viên thuốc lắc. Minh đã sử dụng 01 gam ma túy đá. Còn 09 gam ma túy đá, 9 viên thuốc lắc và 06 gam ma túy đông trùng, Minh pha vào hỗn hợp chất màu vàng của Tuấn đưa bán, mục đích để bán nhưng chưa bán được thì bị Công an thu giữ, tổng khối lượng 491,29 gam hỗn hợp chất màu vàng. Tuy nhiên kết quả giám định kết luận trong khối lượng 491,29 gam trên chỉ có: 1,32 gam Methamphetamine; 1,514gam MDMA; 0,357 gam ma túy Ketamine; 0,419gam Heroine.
Như vậy, tổng khối lượng Nguyễn Thị Minh bán trái phép và tàng trữ mục
đích để bán là: 73,914 gam Methamphetamine; 1,154 gam MDMA; 0,419 gam Heroine; 38,357 gam Ketamine.
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu Thơ, Nguyễn
Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Văn Tuấn, đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên (Bút lục số 293-312, 328-351, 355-372, 380-389).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Lại Minh Thương trình bày:
Cháu là con gái của Nguyễn Thị Minh. Việc mẹ cháu mua bán và sử dụng ma túy, cháu không biết và mẹ cháu cũng không nói. Trong quá trình kiểm tra nhà Nguyễn Thị Minh ngày 20/3/2019, cháu bị công an thu giữ 01 điện thoại Samsung màu đen. Đây là chiếc điện thoại cháu được mẹ tặng nhân dịp sinh nhật ngày 17/6/2019. Cháu đề nghị cơ quan điều tra xem xét, tạo điều kiện trả lại cháu chiếc điện thoại Samsung đã bị thu giữ.
Với hành vi trên, tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKSQN-P1 ngày 12/8/2019,
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu Thơ, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Văn Tuấn, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trong đó hành vi của Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu Thơ theo điểm h, khoản 3; hành vi của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt theo các điểm: b, p, khoản 2; hành vi của Nguyễn Văn Tuấn theo điểm p, khoản 2 – Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu
Thơ, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt có lời khai tương tự quá trình điều tra, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên
quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm h, khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị Minh từ 17 đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/3/2019. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh phải nộp 25.000.0000đ, do mua bán ma túy mà có sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm h, khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản
1, Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Hữu Thơ từ 16 đến 17 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/3/2019. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Thơ phải nộp 26.000.0000đ, do mua bán ma túy mà có sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm b, p, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h,
khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị Ánh Nguyệt từ 10 đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/3/2019.
Áp dụng điểm p, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn Tuấn từ 9 đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 04/3/2019.
Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
* Luật sư bào chữa cho các bị cáo có quan điểm bào chữa như sau:
Luật sư Vũ Long, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Minh nhất trí với quan
điểm của Viện kiểm sát về tội danh, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, t, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt.
Luật sư Đào Bá Yên, bào chưa cho bị cáo Nguyễn Hữu Thơ cho rằng, cần áp
dụng cho bị cáo Thơ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, và điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì có thái độ khai báo rất thành khẩn và còn khai báo cả hành vi chưa bị phát hiện; và không đủ căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình đối đáp, đại diện Viện kiểm sát chỉ chấp nhận áp dụng điểm s khoản
1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả hai bị cáo Minh và Thơ.
Nói lời sau cùng, các bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình
và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh
Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các
bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Các luật sư đều đồng tình với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị
áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ, để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian tháng 10, 11 năm 2018 và trong tháng 02, 03 năm 2019, tại địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh:
- Nguyễn Thị Minh có hành vi nhiều lần bán và tàng trữ nhằm mục đích để
bán trái phép: 73,914 gam Methamphetamine; 1,514 gam MDMA; 0,419g Heroine; 38,357 gam Ketamine là chất ma túy ở thể rắn.
- Nguyễn Hữu Thơ nhiều lần bán và tàng trữ nhằm mục đích để bán trái phép:
43,571 gam Methamphetamine; 1,514 gam MDMA; 52 gam Ketamine.
- Nguyễn Thị Ánh Nguyệt đã 05 lần giúp sức cho Thơ bán trái phép 50 gam
Ketamine và 7,2 gam Methamphetamine.
- Nguyễn Văn Tuấn có hành vi tàng trữ nhằm mục đích để bán: 13,736 gam
Heroine; 0,011 gam Methamphetamine; 0,22 gam Ketamine. Tổng khối lượng của 03 chất ma túy là 13,967 gam.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu Thơ đã cấu thành tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h, khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Ánh Nguyệt đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, p, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Tuấn đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07
năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
... b) Phạm tội 02 lần trở lên;
p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm
đến 20 năm:
... h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã
xâm phạm đến trật tự công cộng và chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Ma túy là loại độc dược không những hủy hại sức khỏe của người sử dụng, mà còn gây tác hại nhiều mặt trong đời sống xã hội và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Các bị cáo đã mua bán ma túy với số lượng lớn, diễn ra nhiều lần. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, để đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa.
Xét hành vi và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá vai trò
của từng bị cáo như sau:
Nguyễn Thị Minh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán và mua
bán ma túy với vai trò độc lập, số lượng ma túy lớn, giữ vai trò đầu vụ. Sau Minh là Nguyễn Hữu Thơ cũng mua bán ma túy với số lượng lớn ; Tiếp đến là Nguyễn Văn Tuấn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán với vai trò độc lập, mua heroine về điều chế để bán ở dạng trà sữa nhưng chưa bán được; Còn Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, chỉ là người giúp sức cho Thơ trong việc mua bán ma túy, nên giữ vai trò sau cùng.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu Thơ phạm
tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Nguyệt có một tiền án, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều khai báo thành khẩn nên đều được hưởng
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Minh có bố là người có công với cách mạng được tặng thưởng nhiều huân huy chương, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Hữu Thơ được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về việc truy thu số tiền thu lời bất chính:
Quá trình điều tra xác định các bị cáo hưởng lợi từ việc mua bán ma túy như
sau:
- Bị cáo Nguyễn Thị Minh thu lợi 25.000.000đ.
- Bị cáo Nguyễn Hữu Thơ thu lời 26.000.000đ.
Đây là tiền các bị cáo được hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy,
cần buộc các bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
Đối với số lượng ma túy mà các bị cáo khai đã bán cho nhiều khách lẻ, do
không xác định được số lượng, giá cả cụ thể và các đối tượng đã mua bán, một phần cũng bị thu giữ, nên không có cơ sở để truy thu số tiền các bị cáo được hưởng lợi ở những lần mua bán ma túy này.
Về vật chứng của vụ án:
- Vật chứng là ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại Nokia của anh Lê Kim Hoàn đã trả lại nên không đề cập.
- Đối với điện thoại thu giữ của các bị cáo gồm: 01 điện thoại Iphone của
Nguyễn Văn Tuấn, 01 điện thoại Iphone và 01 điện thoại Oppo của Nguyễn Thị Minh, 01 điện thoại SAMSUNG của Nguyễn Hữu Thơ, 02 điện thoại Iphone của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, là điện thoại mà các bị cáo dùng để liên lạc mua bán, tàng trữ ma túy cần tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại SAMSUNG của cháu Lại Minh Thương; 01 điện thoại Nokia,
01 thẻ căn cước công dân, 01 sổ thông hành, 01 thẻ ngân hàng Vietcombank của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt; 01 Giấy thông hành xuất nhập cảnh của Nguyễn Thị Minh, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Minh, Nguyệt và cháu Thương.
- Đối với 01 khẩu súng thu giữ của Nguyễn Văn Tuấn: cần tịch thu, giao cho
Công an tỉnh Quảng Ninh xử lý theo quy định của pháp luật.
- Các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng
xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Các đối tượng: Hoàn ở Đông Triều, Luân ở Uông Bí, A Sinh người Trung
Quốc, Thế ở Hà Nội, Mạnh ở Tiên Yên là người bán ma túy cho các bị cáo, không xác định được lai lịch, địa chỉ; Nguyễn Văn Dũng, Bàng Văn Tiếp là người bán ma túy cho các bị cáo, vắng mặt tại địa phương; Lê Văn Quý, Phạm Văn Tuyên là người mua ma túy của các bị cáo vắng mặt tại địa phương; Các đối tượng Hưng, Hạnh, Dương, Long, Tuấn, Cường, Thế Anh ... không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu Thơ,
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Văn Tuấn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-Về hình phạt:
1. Áp dụng điểm h khoản 3 điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm
g khoản 1 điều 52 – Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh 16 (Mười sáu) năm tù; Thời hạn tù tính từ
ngày bị bắt 20/03/2019.
2. Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251 Điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm g khoản
1 Điều 52 – Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Thơ 15 (Mười lăm) năm tù; Thời hạn tù tính từ
ngày bị bắt 20/03/2019.
3. Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn 9 (Chín) năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày bị
bắt 04/03/2019.
4. Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 - Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh Nguyệt 8 (Tám) năm tù, Thời hạn tù tính từ
ngày bị bắt 21/03/2019.
-Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Buộc Bị cáo Nguyễn Thị Minh phải nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm
tội là 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng), bị cáo Nguyễn Hữu Thơ phải nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội là 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước các điện thoại: 01 điện thoại Iphone màu
vàng của Nguyễn Văn Tuấn; 01 điện thoại Iphone màu vàng và 01 điện thoại Oppo màu đen của Nguyễn Thị Minh; 01 điện thoại SAMSUNG của Nguyễn Hữu Thơ; 01 điện thoại Iphone màu đen, 01 điện thoại Iphone màu hồng của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.
Trả lại cháu Lại Minh Thương 01 điện thoại Samsung màu đen + 01 sim.
Trả lại Nguyễn Thị Ánh Nguyệt 01 thẻ căn cước công dân, 01 sổ thông hành,
01 thẻ ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, 01 điện thoại Nokia màu vàng.
Trả lại Nguyễn Thị Minh 01 Giấy thông hành xuất nhập cảnh mang tên
Nguyễn Thị Minh.
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số
286/GĐMT, (số 01), số 2034/C09 (TT2) và 02 hộp niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 274/GĐMT (số 02, bên trong có 01 khay nhựa; 01 ca nhựa màu trắng), số 1237/C09-TT2; 155 vỏ túi nylon các loại; 03 cân điện tử; 01 hộp hình trụ tròn màu đỏ hai bên có nắp kim loại màu trắng; 01 khay nhôm; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 thân máy say sinh tố; 01 máy sấy tóc; 01 hộp say đồ bằng kim loại và 06 sim điện thoại.
Tịch thu, giao cho Công an tỉnh Quảng Ninh 01 khẩu súng (dạng súng hơi tự
chế) dài 1,1 mét, thân súng có ghi chữ “Fxairguns”, báng súng bằng gỗ màu nâu, gắn ống ngắm có ghi “Bushnell 3-9x32EG”, để xử lý theo quy định của pháp luật.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa Phòng
Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Quảng Ninh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Hữu Thơ, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Văn Tuấn mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có mặt
tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng
cáo bản án của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Người tham gia tt; - VKSND tỉnh QN; - Công an tỉnh QN; - Trại tạm giam Công an tỉnh QN; - THA, Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |