- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị T-Lam Thieu T"
- Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2019/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2019 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Xuân Hải
2. Bà Nguyễn Thị Nở
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 341/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị T, sinh năm: 1971
Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lam Thieu Th, sinh năm: 1960
Địa chỉ: Canada. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29.6.2017 và trong quá trình tố tụng, bà Lâm Thị T - nguyên đơn trình bày:
Năm 2008, Bà và ông Lam Thieu Th tìm hiểu sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 1963, quyển số 07 ngày 09.6.2008).
Sau khi kết hôn, ông Lam Thieu Th quay về Canada để sinh sống và làm việc nên vợ chồng không có điều kiện sống chung với nhau, có nhiều mâu thuẩn, bất hòa không thể hàn gắn được.
Bà T cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà yêu cầu được ly hôn với ông Lam Thieu Th.
Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Bà T khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tòa án đã thực hiện việc ủy thác tư pháp để thông báo thời gian tổ chức các phiên họp hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông Lam Thieu Th không có mặt nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn bà Lâm Thị T vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã nêu trên đồng thời có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông Lam Thieu Th vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ giai đoạn thụ lý đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Lâm Thị T và ông Lam Thieu Th là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có nơi cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh; bị đơn có nơi cư trú tại Canada nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã gửi Văn bản về việc Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập tham gia tố tụng cho bị đơn ông Lam Thieu Th theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 02.11.2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản của Bộ Tư pháp thông báo đã tống đạt văn bản tố tụng trực tiếp cho bị đơn theo quy định; tuy nhiên, đến ngày mở phiên tòa (lần thứ 3) bị đơn không có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 15.8.2018, nguyên đơn bà Lâm Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình tố tụng nguyên đơn đã cung cấp lời khai và xác định cụ thể yêu cầu khởi kiện nên việc nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án đồng thời phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.
2. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 1963, quyển số 07 ngày 09.6.2008 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Thị T và ông Lam Thieu Th là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn bà Lâm Thị T thì ông Lam Thieu Th sinh sống, làm việc ở Canada còn Bà ở Việt Nam nên vợ chồng không có điều kiện chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; bên cạnh đó khi vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, bất hòa thì không thể hàn gắn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã làm thủ tục ủy thác tư pháp đồng thời thông báo cho ông Lam Thieu Th biết yêu cầu ly hôn của bà Lâm Thị T và ngày Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử (lần thứ I, lần thứ II, lần thứ III) nhưng không nhận được ý kiến trả lời; điều này cho thấy ông Lam Thieu Th không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà Tốt, như vậy việc hàn gắn là không còn biện pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Lâm Thị T và ông Lam Thieu Th đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà Tốt có yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống là nguyện vọng chính đáng đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Bà T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lâm Thị T chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lâm Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị T được ly hôn với ông Lam Thieu Th.
- Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Lâm Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số AA/2017/0047133 ngày 11.7.2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T không phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bà Lâm Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Ông Lam Thieu Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Bích Loan |