vanban.org

Bản án 111/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K.

Buộc anh Trần Hoàng Q có nghĩa vụ trả ngay cho bà Nguyễn Thị K số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà K có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Q chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2018/DS-ST
Ngày: 24-8-2018
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Vĩnh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Thanh.

2. Ông Dương Trần Trọng Quang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 200/2018/TLST–DS ngày 12 tháng 6 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2018/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Ấp 4, xã C, huyện C, tỉnh T.

- Bị đơn: Anh Trần Hoàng Q, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp 2, xã C, huyện C, tỉnh T.

Bà K có đơn xin vắng mặt, anh Q vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị K trình bày: Ngày 17/10/2016, bà có cho anh Q vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, không ghi thời hạn mà thỏa thuận khi nào cần bà báo trước cho anh Q biết thì anh Q sẽ trả cho bà. Tuy nhiên, từ lúc vay đến nay anh Q không đóng lãi và cũng không trả vốn nên bà có đến nhà anh Q yêu cầu anh Q trả nhưng anh Q cố tình tránh né không trả cho bà. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu anh Q trả ngay số tiền 10.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.

Anh Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Bà K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà K và anh Q theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị K thấy rằng: Tại giấy có nội dung nhận nợ ngày 17/10/2016, anh Q thừa nhận có vay của bà K 10.000.000 đồng và anh Q có ký tên là phù hợp với yêu cầu khởi kiện của bà K. Mặt khác, anh Q không phản đối yêu cầu khởi kiện của bà K nên theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K. Buộc anh Q phải có nghĩa vụ trả ngay cho bà K số tiền 10.000.000 đồng.

Về án phí: Anh Q phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 463, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K.

2. Buộc anh Trần Hoàng Q có nghĩa vụ trả ngay cho bà Nguyễn Thị K số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà K có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Q chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

4. Về án phí: Anh Trần Hoàng Q phải chịu 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị K 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 15649 ngày 12/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh T.

5. Bà K, anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ