- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Duong Hung V - Mai Uyen P"
- Tòa quyết gì? Sửa chữa, bổ sung Bản án số 1107/2020/ HNGĐ-ST ngày 29 tháng 7 năm
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1107/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 7 - 2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Bà Trần Thị Bích Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Ninh – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 263/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3407/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Duong Hung V, sinh năm 1966 (vắng mặt, có đơn xin
vắng mặt)
Địa chỉ: AB T1x O L 6, Canada.
- Bị đơn: Bà Mai Uyên P, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn là ông Duong Hung V trình bày:
Ngày 05/4/2011, ông Duong Hung V và bà Mai Uyên P tự nguyện kết hôn
tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào sổ đăng ký kết hôn số 1261 quyển số 05 ngày 08/4/2011. Thời gian đầu sau khi kết hôn khá hạnh phúc nhưng do tuổi tác cách biệt quá nhiều, khoảng cách địa lý khiến vợ chồng không sống cùng nhau nên phát sinh mâu thuẫn, mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành công, tình cảm vợ chồng cũng phai nhạt, ông bà không quan tâm chăm sóc nhau nữa, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mỗi người đã có cuộc sống riêng nên ông Duong Hung V xin được ly hôn với bà Mai Uyên P. Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có. Bị đơn là bà Mai Uyên P vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết nên không có lời trình bày. Tại phiên tòa sơ thẩm, Ông Duong Hung V và bà Mai Uyên P đều vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Duong Hung V, cho ông Duong Hung V được ly hôn với bà Mai Uyên P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Duong Hung V đang cư trú tại Hoa Kỳ có đơn xin ly hôn với bà Mai Uyên P hiện đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Duong Hung V tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào lúc 8 giờ ngày 29/6/2020, lần thứ hai vào lúc 8 giờ ngày 29/7/2020, ông Duong Hung V có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bà Mai Uyên P, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin cư trú của bà P, theo kết quả cung cấp thông tin của Công an Phường M, Quận T và Công an Quận T thì bà P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số Phường M, Quận T và chưa có thông tin thay đổi nơi đăng ký thường trú, tuy nhiên thực tế bà P không cư ngụ tại địa phương. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bà P theo quy định để triệu tập hợp lệ bà tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào lúc 8 giờ ngày 29/6/2020, lần thứ hai vào lúc 8 giờ ngày 29/7/2020 nhưng bà Mai Uyên P vẫn vắng mặt. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Ông Duong Hung V và bà Mai Uyên P có đăng ký kết hôn và được Ủy ban
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào sổ đăng ký kết hôn số 1261 quyển số 05 ngày 08/4/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo ông Duong Hung V trình bày thì sau khi kết hôn thì phát sinh mâu
thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng bị phai nhạt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Về phía bà Mai Uyên P, Tòa án đã tiến hành triệu tập bà P nhưng bà không còn cư trú tại địa chỉ Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nữa. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh thì tại thời điểm kết hôn, bà P có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên. Tòa án cũng xác minh quan hệ hôn nhân giữa ông Duong Hung V và bà Mai Uyên P tại địa phương, theo kết quả xác minh của Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì đến nay cơ quan này không có thông tin gì liên quan đến bà Mai Uyên P. Do đó, có cơ sở xác định từ sau khi kết hôn đến nay, ông Duong Hung V và bà Mai Uyên P không có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, vì vậy yêu cầu của ông Duong Hung V khởi kiện xin ly hôn với bà Mai Uyên P là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Ông Duong Hung V khai không có nên không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Duong Hung V khai không có nên
không xét.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng
ông Dương Hung Van phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Ông Duong Hung V và bà Mai Uyên P có quyền
kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điều
262, Điều 266, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Duong Hung V. 1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Duong Hung V được ly hôn với bà Mai Uyên P. 2. Về con chung: Không có. 3. Về tài sản chung: Không có. 4. Về nợ chung: Không có. 5. Về án phí: Ông Duong Hung V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông Duong Hung V đã nộp theo biên lai thu tạm tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2018/0025659 ngày 09/5/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Duong Hung V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. 6. Về quyền kháng cáo: Bà Mai Uyên P được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Duong Hung V có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TC;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- Cục THADS TP.HCM;
- UBND TP.HCM (Sở Tư pháp);
- Các đương sự;
- Lưu: HS, VP (T/20).
Phạm Thị Thu Phương
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số:
/QĐ-SCBSBA
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 8 năm 2020
QUYẾT ĐỊNH
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Căn cứ vào Điều 268 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án do nhầm lẫn trong Bản án số
1107/2020/ HNGĐ-ST ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về “Ly hôn”, giữa:
Nguyên đơn: Ông Duong Hung V, sinh năm 1966
Địa chỉ: AB T1x O L 6, Canada.
Bị đơn: Bà Mai Uyên P, sinh năm 1986
Địa chỉ: Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa chữa, bổ sung Bản án số 1107/2020/ HNGĐ-ST ngày 29 tháng 7 năm
2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về “Ly hôn” như sau:
Tại dòng thứ 14 (mười bốn), 15 (mười lăm) từ dưới lên, trang 2 (hai) của
bản án đã ghi:
“Ông Duong Hung V đang cư trú tại Hoa Kỳ có đơn xin ly hôn với bà Mai
Uyên P hiện đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh.”
Nay sửa chữa như sau:
“Ông Duong Hung V đang cư trú tại Canada có đơn xin ly hôn với bà
Mai Uyên P hiện đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh.”
| Nơi nhận: - TAND TC; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND TP.HCM (Sở Tư pháp); - Các đương sự; - Lưu: HS, VP (T/20). | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |