vanban.org

Bản án 1102/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Thanh H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh H được ly hôn với ông Trần Đức L Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Trần Phạm Khánh L sinh ngày 10/12/2011. Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Thanh H:
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1102/2018/HNGĐ-ST
Ngày 10/8/2018
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Duyên

Ông Lê Ngọc Hóa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng- Thư ký Tòa án án nhân dân quận Gò Vấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.

Vào ngày 10 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 137/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2018 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 246/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà H; Cư trú tại: Địa chỉ: đường Thống Nhất, Phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông L; Cư trú tại: Nguyễn Kiệm, Phường 3, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 16/01/2018 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là bà Phạm Thị Thanh H trình bày: Bà và ông Trần Đức L kết hôn với nhau vào năm 2010, cuộc sống gia đình của bà và ông L không hạnh phúc. Do xung đột gia đình, ông L đã bỏ nhà đi từ năm 2014 đến nay. Do không liên lạc được với ông L nên bà H đã yêu cầu toàn án tuyến bố ông L mất tích. Ngày 19/12/2017, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp ban hành quyết định số 801/2017/QĐDS-ST quyết định tuyên bố ông Trần Đức L mất tích. Nay nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông L.

Về con: Bà H và ông L có 01 con chung tên Trần Phạm Khánh L sinh ngày 10/12/2011. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, bà H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày trong đơn khởi kiện và tại các buổi làm việc tại Tòa án.

Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn đến làm việc tại Toà án nhân dân quận Gò Vấp nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án không thể ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc bà H yêu cầu ly hôn với ông L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến tham gia phiên toà vào ngày 10/7/2018 và ngày 10/8/2018 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án vẫn tiến hành phiên toà theo quy định của pháp luật.

Về các yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 40 quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã Quang Hưng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cấp ngày 25/10/2010 thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thanh H và ông Trần Đức L là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các biên bản ghi nhận lời khai và các chứng cứ khác trong vụ án xác định ông Trần Đức L đã bị tuyên bố mất tích theo quyết định số 801/2017/QĐDS-ST do Tòa án nhân dân quận Gò Vấp ban hành ngày 19/12/2017. Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”, HĐXX xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào giấy khai sinh số 58/2012 quyển số 01/2012TT ngày 10/02/2012 do UBND phường 03, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thể hiện trẻ Trần Phạm Khánh L sinh ngày 10/12/2011 là con chung của bà H và ông L. Xét thấy, từ năm 2014 cho đến nay, bà H là người trực tiếp nuôi con và ông L đã bị tuyên bố mất tích nên để bảo đảm quyền lợi của trẻ, HĐXX quyết định giao trẻ Trần Phạm Khánh L cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải nộp án phí đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, khoản 2 Điều 227, Điều 245, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Thanh H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh H được ly hôn với ông Trần Đức L

Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Trần Phạm Khánh L sinh ngày 10/12/2011. Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, bà H phải nộp nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028494 ngày 25/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ