- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thế T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025):
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2026/HS-ST Ngày 15-7-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Loan và ông Cầm Văn Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Thế T, sinh năm 1994, tại xã M, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT: Tiểu khu 1, xã M, tỉnh S. Nơi ở: Tiểu khu 3, xã M, tỉnh S; Số CCCD 014094011358; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Nam (đã chết) và bà Vũ Thị Mai, bị cáo có vợ là Hoàng Thị Hương Giang và 02 con; Tiền án, Tiền Sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2026 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2026 sau khi ăn cơm, uống rượu tại nhà ở của T thuộc tiểu khu 3, xã M, tỉnh S, T nói với Nguyễn Trung H, sinh năm 1995 trú tại tiểu khu 5, xã M, tỉnh S (là bạn của T đang ngồi uống nước tại nhà T) là đi cùng T có việc. H đồng ý. Sau đó T và H đi bộ ra đường quốc lộ 6 thuê xe taxi của Lê Anh T sinh năm 1987 trú tại tiểu khu 1, xã M, tỉnh S. T bảo lái xe taxi chở đến tiểu khu 3/2, xã M. Khi đến nghĩa trang nhân dân thuộc tiểu khu 3/2, xã M, tỉnh S, T bảo lái xe taxi và H đợi còn T một mình đi bộ vào khuôn viên nghĩa trang tìm mua ma túy. Tại đây T gặp và mua được của một người đàn ông không biết tên địa chỉ 01 gói nilon màu vàng chứa 11 viên Hồng phiến với giá 500.000.VNĐ. Mua được ma túy, T cât giấu vào túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc và đi bộ ra xe taxi. Khi cách xe taxi khoảng 100m thì bị tổ công tác Công an xã M, tỉnh S phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La phối hợp phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng khi bắt quả tang Lê Thế T, kết quả 11 viên nén màu hồng có khối lượng 1,10 gam lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành xét nghiệm nước tiểu bằng que thử đối với Lê Thế T. Kết quả Lê Thế T âm tính với chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 522/KLMT ngày 17/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“Mẫu giám định ký hiệu M là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,10 gam.”
Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 49/CT-VKSKV4 ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La truy tố Lê Thế T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Lê Thế T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bản thân thực hiện là tàng trữ trái phép tổng khối lượng 1,10 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Lê Thế T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lê Thế T từ 40 tháng đến 46 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2026 là ngày bắt tạm giữ đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong bằng giấy màu nâu ký hiệu PS3, có mã số PS3A 109692 do Viện kỹ thuật hóa học - Sinh học và tài liệu nghiệp vụ Bộ Công an sản xuất bên trong chứa 1,03 gam Methamphetamine ; 01 phong bì thư do Công an xã Mai Sơn phát hành bên trong chứa 01 mảnh nilon màu vàng gói ma túy ban đầu.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo Lê Thế T tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 12/3/2026, Lê Thế T đã mua trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng với số tiền 500.000 đồng. Cùng ngày, tại tiểu khu 3/2, xã M, tỉnh S, Lê Thế T bị tổ công tác Công an xã M, tỉnh S bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 1,10 gam Methamphetamine.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 12/3/2026; Kết luận giám định số: 522/KL-KTHS ngày 17/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thế T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh nêu trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thế T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Lê Thế T thực hiện hành vi phạm tội với tổng khối lượng ma túy tàng trữ trái phép là 1,10 gam Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Thế T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thế T thành khẩn khai báo, ngoài ra bị cáo có bà ngoại – Bà Nguyễn Thị Du được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, ông nội – Ông Lê Văn Bảy được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bà nội – Bà Lò Thị Tứm được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt áp dụng: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Thế T nhận thức rõ hành vi tàng trữ, sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng vì vậy cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đảm bảo biện pháp giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Lê Thế T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 “...người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Lê Thế T không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 01 túi niêm phong bằng giấy màu nâu ký hiệu PS3, có mã số PS3A 109692 do Viện kỹ thuật hóa học - Sinh học và tài liệu nghiệp vụ Bộ Công an sản xuất bên trong chứa 1,03 gam Methamphetamine ; 01 phong bì thư do Công an xã Mai Sơn phát hành bên trong chứa 01 mảnh nilon màu vàng gói ma túy ban đầu, xét thấy đây là loại vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý Lê Thế T khai mua của người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) việc mua bán không có ai biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có tài liệu để điều tra mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng 1,10 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lê Thế T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025):
Tuyên bố bị cáo Lê Thế T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lê Thế T 43 (Bốn mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2026 (Ngày bắt tạm giữ bị cáo).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong bằng giấy màu nâu ký hiệu PS3, có mã số PS3A 109692 do Viện kỹ thuật hóa học - Sinh học và tài liệu nghiệp vụ Bộ Công an sản xuất bên trong chứa 1,03 gam Methamphetamine; 01 phong bì thư do Công an xã Mai Sơn phát hành bên trong chứa 01 mảnh nilon màu vàng gói ma túy ban đầu.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 101/BB-PTHADS, ngày 30/6/2026. giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lê Thế T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo Lê Thế T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 15/7/2026). Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Sơn La;
- VKSND Khu vực 4 - Sơn La;
- Phòng PC10 Công an tỉnh Sơn La;
(Đã ký)
- Phòng PV06 Công an tỉnh Sơn La;
- Phòng THADS Khu vực 4 - Sơn La;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
Hoàng Văn Hải THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Văn Hải
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND Khu vực 4 - Sơn La; - Phòng PC10 Công an tỉnh Sơn La; - Phòng PV06 Công an tỉnh Sơn La; - Phòng THADS Khu vực 4 - Sơn La; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Hải |