vanban.org

Bản án 110/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 04/09/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2026. Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn mẫu số: 537/KL-KTHS, ngày 16/6/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong gồm toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật gửi giám … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2026/HS-ST
Ngày 04 – 9 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Xuân Minh.

Bà Trương Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đàm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2026/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984 tại tỉnh Cà Mau; căn cước số 096084011667, cấp ngày 19/6/2025, nơi cấp: Bộ Công an; nơi cư trú: Ấp Quảng P, xã Nguyễn Việt K, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Đ và bà Phạm Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: 01 lần. Ngày 23/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh Cà Mau (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau) xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 04/11/2024 và chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/5/2025; bị bắt ngày 11/6/2026 trong trường hợp phạm tội quả tang và chuyển tạm giữ, tạm giam cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/5/2025, Huỳnh Văn T chấp hành xong Bản án số: 22/2024/HS-ST, ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh Cà Mau (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau) nên được Công an xã Nguyễn Việt K, tỉnh Cà Mau đưa vào diện quản lý, theo dõi sau khi chấp hành án.

Do nghi vấn T còn sử dụng ma túy nên vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/6/2026, Công an xã Nguyễn Việt K đến nhà mời T về trụ sở Công an để kiểm tra, test nhanh chất ma túy trong cơ thể. Khi đến nhà, phát hiện tại nhà T có dụng cụ sử dụng ma túy, tiến hành kiểm tra bên trong ống thủy tinh (nỏ sử dụng ma túy) có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ, niêm phong bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai thủy tinh, trên miệng chai có quấn băng keo màu đen có gắn 01 ống nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh theo quy định.

Tại Kết luận giám định số: 537/KL-KTHS ngày 16/6/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong ống thủy tinh (cái nỏ), được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: PS3, Mã số: PS3 24138654 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0114 gam.

Tại Kết luận giám định số: 538/KL-KTHS ngày 18/6/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine bên trong mẫu nước tiểu gửi giám định của Huỳnh Văn T.

Quá trình điều tra, Huỳnh Văn T khai nhận: Ngày 10/6/2026, T đi xe grap (xe ôm công nghệ) đến khu vực cống Hội đồng Nguyên thuộc khóm Bà Điều, phường Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T gặp người thanh niên tên Thành (không rõ nhân thân) hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì Thành đồng ý. Sau khi nhận được ma túy, T cất giữ trong người và đi xe grap về nhà. Tại nhà, T lấy số ma túy vừa mua được bỏ vào dụng cụ sử dụng một phần, phần còn lại trong dụng cụ sử dụng ma túy T cất giữ. Đến sáng ngày 11/6/2026, T tiếp tục sử dụng phần ma túy còn lại nhưng sử dụng không hết mà chừa lại để tiếp tục sử dụng sau nhưng đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Công an xã Nguyễn Việt K đến kiểm tra, phát hiện nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong tang vật.

Tại Cáo trạng số: 65/CT-VKSCMU-KV3 ngày 14/8/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Kiểm sát viên vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng và đồ vật thu giữ trong vụ án.

- Bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo thừa nhận việc Công an thu giữ số ma túy được bỏ trong dụng cụ sử dụng ma túy tại nhà bị cáo vào ngày 11/6/2026 là đúng, do bị cáo nghiện ma túy nên mua ma túy mang về nhà sử dụng một mình. Vì vậy, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết quả giám định, không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về diễn biến thực hiện hành vi tội phạm, đối chiếu kết luận giám định cùng các chứng cứ khác được thu thập, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy nên vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/6/2026, bị cáo đã và đang cất giữ trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine trong bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy tại nơi ở thuộc ấp Quãng P, xã Nguyễn Việt K, tỉnh Cà Mau có tổng khối lượng 0,0114 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Việc cất giữ chất ma tuý của bị cáo là không hợp pháp, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết được tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Mặc dù, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ theo kết luận giám định ít hơn so với khối lượng ma túy cùng loại mà Bộ luật Hình sự quy định (tàng trữ từ 0,1 gam đến dưới 05 gam) và đã chấp hành xong Bản án hình sự số: 22/2024/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh Cà Mau vào ngày 30/5/2025 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa được xóa án tích nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bởi chính tác hại của ma tuý gây ra ức chế về thần kinh, tạo ảo giác mạnh cho người sử dụng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi, là mầm móng cho việc lây lan bệnh tật, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác. Hơn nữa, sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống, bị cáo không cố gắng sửa đổi lỗi lầm lại tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội điều đó cho thấy thái độ, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt đặc biệt đối với loại tội phạm về ma túy hiện nay ngày một gia tăng, mức độ thực hiện ngày càng tinh vi và số lượng ma túy mà người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép ngày càng nhiều trong đó có cả đối tượng nghiện ma túy trực tiếp tham gia, thực hiện với mức độ quyết liệt, táo bạo đang được báo, đài đưa tin, dư luận lên án. Đồng thời, việc phòng chống cũng gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm nên cần xử lý thật nghiêm nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, sống có ích và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bà nội là bà Tô Thị Kề được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên áp dụng các tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Với đánh giá nêu tại các đoạn [1], [2] và [3] nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị là có cơ sở chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án, gồm: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 537/KL-KTHS ngày 16/6/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong gồm toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật gửi giám định đang được bảo quản tại Kho vật chứng và tài liệu, đồ vật thuộc Phân trại tạm giam Trần Văn Thời bảo quản - Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với người thanh niên tên Thành bán ma túy cho bị cáo do không rõ họ tên, địa chỉ nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tách ra, giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát không xem xét xử lý trách nhiệm đối với Tèo là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Nhựt Linh có mặt tại nhà của bị cáo, khi cơ quan Công an tiến hành bắt quả tang Tèo. Quá trình điều tra chứng minh Linh không có liên quan đến việc tèo tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát không xem xét xử lý đối với Linh là phù hợp.

Hiện nay, ma túy đang là một trong những vấn nạn nhức nhối nhất của xã hội, trong các hành vi vi phạm pháp luật về ma túy thì tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi diễn ra phổ biến, là mắt xích trực tiếp nuôi dưỡng nguồn cung cho vấn nạn sử dụng và mua bán chất cấm. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Việt K, tỉnh Cà Mau chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các Phòng, ban, ngành, đoàn thể xã, các ấp thực hiện nghiêm Chỉ thị số: 03-CT/TU, ngày 26/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác phòng, chống ma túy trong tình hình mới” kết hợp với công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục phòng, chống ma túy trong nhân dân và nâng cao hiệu quả công tác quản lý người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất, công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện trên địa bàn xã.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2026.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn mẫu số: 537/KL-KTHS, ngày 16/6/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong gồm toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật gửi giám định (theo phiếu nhập kho vật chứng và tài liệu, đồ vật số: 57/PNK, ngày 26/6/2026; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/6/2026).

- Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng, chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 8, 9 và 11 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ