vanban.org

Bản án 110/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/02/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu H Mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2026/HS-ST
Ngày: 22 - 6- 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Lan Hương và bà Phan Thị Sâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2026, Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tiến hành phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107 /2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 02 năm 1994 tại tỉnh Quảng Trị. Nơi thường trú: Tổ dân phố Thắng L, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; đoàn thể: Quần chúng; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1966 và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1974; có chồng: Nguyễn Văn M, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2014, bé sinh năm 2017 (ở với mẹ); Anh chị em ruột: Có 02 người, H là con út trong gia đình; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Quảng Trị từ ngày 09/02/2026 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất của Toà án.

- Người tham gia tố tụng khác:

*Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Tấn M, sinh năm 2002; địa chỉ: TDP Quyết T, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Anh Lê Hoài N, sinh năm 2007; địa chỉ: TDP Quyết T, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1993; địa chỉ: TDP Trung B, phường Đồng H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Anh Mai Hồng B, sinh năm 2003; địa chỉ: TDP Phú Q, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Anh Lê Quang M, sinh năm 1991; địa chỉ: TDP Quyết T, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 04/09/2023, Nguyễn Tấn M, sinh năm 2002, trú tại TDP Quyết T, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị; Lê Hoài N, sinh năm 2007, trú tại TDP Quyết T, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị và Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1993 trú tại thôn Trung B, phường Đồng H, tỉnh Quảng Trị ăn nhậu xong thì đến thuê nhà nghỉ Thảo T thuộc phường Đồng H, tỉnh Quảng Trị gần khu vực ga Đồng H để nghỉ. Vì có nhu cầu sử dụng ma tuý nên M gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thu H sinh năm 1994, trú tại TDP Thắng L, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị, giới thiệu là bạn của N và hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý hồng phiến thì H đồng ý bán và nói với M chuyển khoản trước. M dùng số tài khoản 0886668673 ngân hàng MBBank của M chuyển vào tài khoản số 4567891994 ngân hàng VPBank của NGUYEN THỊ THU H số tiền 1.000.000 đồng. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 05/09/2023, M tiếp tục gọi điện thoại cho H hỏi lấy ma túy hồng phiến, H hẹn M lên ngã ba tổ dân phố Thắng L, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị gần nhà H để lấy ma tuý. Lúc này, M gọi N dậy để đi lấy ma tuý rồi M gọi điện cho Mai Hồng B làm nghề lái xe taxi đến đón N. N chỉ dẫn xe taxi đi gần đến ngã ba tổ dân phố Thắng L, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị thì N bảo xe taxi dừng lại. N xuống xe đi một đoạn khoảng 20 mét thì thấy H vứt 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa ma túy hồng phiến, N nhặt lên cất vào túi quần rồi lên xe taxi về lại nhà nghỉ Thảo T. Về đến phòng nghỉ, N đưa gói ma tuý cho M rồi tiếp tục đi ngủ, còn M lấy ma tuý từ N cất giấu trong túi quần của mình và tiếp tục chơi điện thoại. Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, M ngủ dậy đi vệ sinh cá nhân, tắm rửa thì số ma túy hồng phiến mua được từ H trước đó bị rơi ra và trôi xuống cống nước.

Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 05/09/2023, sau khi ngủ dậy thì M, T và N bàn nhau mua ma túy sử dụng. Thơ hỏi N và M “mua ma túy chỗ mô, mua mấy tiền”. N lấy điện thoại của M đăng nhập vào Messenger của N để M liên lạc mua ma tuý từ Nguyễn Thị Thu H. M hỏi mua 800.000 đồng ma tuý hồng phiến, H đồng ý bán, M báo lại với N và T “có rồi” (ý là có ma túy rồi). T chuyển cho M 1.600.000 đồng, M chuyển cho H 800.000 đồng để mua ma tuý, còn lại 800.000 đồng để mua nước uống và trả tiền taxi. Sau đó, M gọi điện cho Mai Hồng B đến đón N tại nhà nghỉ với giá 200.000 đồng. N lên taxi thì M ở phòng nghỉ dùng Messenger của N nhắn tin cho Nguyễn Đăng T, sinh năm 1997 trú tại TDP 3, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị với nội dung “anh ở mô đó để em hai, ba điếu thằng N đang chạy lên” (ý là xin T hai, ba điếu cần sa), T đồng ý và dặn khi nào lên thì gọi. N đang trên đường lên nhà H để lấy ma tuý, thì M gọi điện cho B nói đưa điện thoại cho N (N không mang điện thoại) và hỏi N đang ở đâu?. N trả lời đang ở điểm rút tiền ATM Phú Q tại xã Nam T, tỉnh Quảng Trị nên M dặn N đợi ở đó T sẽ mang cần sa tới cho. T đưa đến cho N 01 gói nilon trong suốt chứa thực vật khô, N lấy cất vào túi quần. Một lúc sau, H gọi vào Messenger của N thì M nghe máy, H dặn M khi nào N gần đến thì gọi lại cho H để H về. M nhắn tin lại cho H qua Messenger của N “Ok”, H nhắn và dặn M ma tuý hồng phiến giấu trong một cái hộp màu đỏ, để dưới gốc cây me, ở trước cổng nhà của H (tin nhắn M đã xoá sau khi nhắn cho H xong). Cùng lúc đó, do B có việc gia đình nên B đã điện cho Lê Quang M, sinh năm 1991 trú tại thôn Quyết T, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị là lái xe taxi đến khu vực rút tiền ATM Phú Q tại xã Nam T, tỉnh Quảng Trị chở khách (là N) cho B, M đồng ý. Sau đó, M gọi cho B để gặp N nhưng B nói N chuyển qua xe taxi M rồi, do M quen biết với M từ trước nên M gọi điện thoại cho M để gặp N và nói với N địa điểm H cất giấu ma túy. Khi đến nơi, N nói với M cho N xuống xe và dặn M đợi. N một mình xuống xe đi bộ đến gốc cây me nhìn thấy có 01 (một) hộp vuông màu đỏ, có họa tiết hoa, có dòng chữ Meiduzi. N nhặt lên và thấy H đứng một mình ở trong nhà sát cửa sổ thì H nói ra: “Cẩn thận công an”. N cầm hộp màu đỏ lên đi về phía xe taxi và lên ngồi phía sau ghế lái mở hộp ra xem thì thấy có 01 gói bên ngoài được dán băng màu đen. Xe taxi vừa đi được khoảng 600 mét thì lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. Quá trình kiểm tra ở túi quần sau bên trái của N có 01 túi nilong trong suốt, bên trong chứa cần sa và 01 túi màu đen dán kín bên trong chứa 15 viên ma túy hồng phiến. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số ma túy trên.

Tại bản kết luận giám định số 866/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: 15 viên nén màu hồng, hình tròn, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY”, tổng khối lượng 1,456g là chất ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ; Tại bản kết luận giám định số 1997/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, thuộc Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Thực vật khô bên trong túi ni long trong suốt là chất ma túy, loại: Cần sa; khối lượng 0,68gam.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Thị Thu H đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Nguyễn Thị Thu H đang nuôi 02 con nhỏ bị mắc bệnh hiểm nghèo; Có hoàn cảnh khó khăn, lao động chính trong gia đình; Có ông ngoại và bà ngoại tham gia kháng chiến, được tặng thưởng huân chương kháng chiến.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch thu giữ 15 viên ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 1,456 gam, quá trình giám định còn lại 1,335gam, được bỏ vào một phong bì thư dán kín, niêm phong, ghi có số “866/KL-KTHS” và có chữ ký của những người giám định; 01 túi ni long trong suốt chứa thực vật khô, có khối lượng 0,68 gam, đã sử dụng hết vào việc giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon Xs Max màu đen, số máy MT5V2 LLIA; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A10s, màu đỏ; có số seri R9AR30FNWHJ01 thẻ ngân hàng MB, có số Serial 9C0L9VK; 01 miếng ni long màu đen; 01 xe ô tô BKS 73A-00110 kèm theo giấy kiểm định, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 hộp chữ nhật màu trắng. Các vật chứng trên hiện đã xử lý tại bản án số 22/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bố T - tỉnh Quảng Bình. Hiện đang tạm giữ 02 điện thoại di động (hiệu SamSung và Iphone) và 01 đĩa DVD đã được niêm phong.

Tại bản Cáo trạng số 126/CT-VKS-KV1 ngày 27 tháng 5 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H ra trước Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

a. Về trách nhiệm hình sự: Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thị Thu H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

b. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01(một) đĩa DVD đã được niêm phong bằng Phong bì niêm phong của Phòng CSĐTTP về Ma túy Công an tỉnh Quảng Trị có tên và chữ ký của những người niêm phong Bùi Thị T, Phan Mạnh G và hình dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị (kèm theo biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ ngày 10/02/2026 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị).

- Tịch thu sung công 01(một) phong bì thư, mặt ngoài có ghi nội dung: “857/KL-KTHS” “Mẫu cần giám định A”; các mép dán kín, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình có tên và chữ ký của những người tham gia niêm phong Nguyễn Hà Thái B, Bùi Thị T. Bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10s, màu đỏ, MEI (khe 1): 350835013868919, MEI (khe 2): 354741433868917 (kèm theo kết luận giám định số 857/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình).

- Trả lại cho Nguyễn Thị Thu H 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu đen có số IMEI: 353045092991718, gắn 01 thẻ sim. Đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy, màn hình trước bị vỡ.

c. Trách nhiệm dân sự: Không có.

- Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính 1.800.000 đồng.

d. Án phí: Nguyễn Thị Thu H chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Ý kiến bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy đúng như bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để được sớm trở về giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, mặc dù biết Methamphetamine là chất ma túy bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm mua bán trái phép dưới mọi hình thức, nhưng nhằm thu lợi bất chính, sáng ngày 05/9/2023, tại khu vực gần nhà ở của Nguyễn Thị Thu H thuộc tổ dân phố Thắng L, xã Nam T, tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Thị Thu H đã hai lần vào hai thời điểm khác nhau (lúc 02 giờ và lúc 08 giờ, ngày 05/9/2023) bán trái phép cho Nguyễn Tấn M 1,456 gam ma túy loại Methamphetamine, thu lợi bất chính 1.800.000 đồng. Vì vậy, Nguyễn Thị Thu H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Xét tính chất nguy hiểm, mức độ, hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây nên những hậu quả xấu về nhiều mặt, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và buộc phải nhận thức được tác hại của việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Do đó, cần thiết phải có một mức án nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian hợp lý nhằm giúp bị cáo có thời gian suy nghĩ, sữa chữa về sai lầm của mình, lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân quyết tâm từ bỏ ma túy, lao động tạo thu nhập chính đáng, trở thành công dân tốt biết tuân thủ pháp luật.

Hiện bị cáo H đang bị tạm giam nên tiếp tục tạm giam theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Thị Thu H đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Bị cáo H đang nuôi 02 con nhỏ bị mắc bệnh hiểm nghèo; Có hoàn cảnh khó khăn, lao động chính trong gia đình; Có ông ngoại và bà ngoại tham gia kháng chiến, được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố T thu giữ 15 viên ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 1,456 gam, quá trình giám định còn lại 1,335gam, được bỏ vào một phong bì thư dán kín, niêm phong, ghi có số “866/KL-KTHS” và có chữ ký của những người giám định; 01 túi ni long trong suốt chứa thực vật khô, có khối lượng 0,68 gam, đã sử dụng hết vào việc giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon Xs Max màu đen, số máy MT5V2 LLIA; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A10s, màu đỏ; có số seri R9AR30FNWHJ01 thẻ ngân hàng MB, có số Serial 9C0L9VK; 01 miếng ni long màu đen; 01 xe ô tô BKS 73A-00110 kèm theo giấy kiểm định, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 hộp chữ nhật màu trắng. Các vật chứng trên hiện đã xử lý tại bản án số 22/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình. Hiện đang tạm giữ 02 điện thoại di động (hiệu SamSung và Iphone) và 01 đĩa DVD đã được niêm phong.

Đối với 01 đĩa DVD cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án; đối với 01 điện thoại hiệu SamSung thu giữ của Nguyễn Thị Thu H liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công; đối với 01 điện thoại Iphone thu giữ của Nguyễn Thị Thu H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu.

HĐXX thấy cần áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01(một) đĩa DVD đã được niêm phong bằng Phong bì niêm phong của Phòng CSĐTTP về Ma túy Công an tỉnh Quảng Trị có tên và chữ ký của những người niêm phong Bùi Thị T, Phan Mạnh G và hình dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị (kèm theo biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ ngày 10/02/2026 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị).

- Tịch thu sung công 01(một) phong bì thư, mặt ngoài có ghi nội dung: “857/KL-KTHS” “Mẫu cần giám định A”; các mép dán kín, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình có tên và chữ ký của những người tham gia niêm phong Nguyễn Hà Thái B, Bùi Thị T. Bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10s, màu đỏ, MEI (khe 1): 350835013868919, MEI (khe 2): 354741433868917 (kèm theo kết luận giám định số 857/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình).

- Trả lại cho Nguyễn Thị Thu H 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu đen có số IMEI: 353045092991718, gắn 01 thẻ sim. Đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy, màn hình trước bị vỡ.

- Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính 1.800.000 đồng.

Nguyễn Thị Thu H khai nhận số ma túy trên mua từ một nam thanh niên (không rõ danh tính và địa chỉ) tại khu chợ thuộc phường Đức N, thành phố Đồng H (cũ), quá trình điều tra không xác định được đối tượng bán mua túy cho H, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Lê Hoài N, Nguyễn Tấn M, Nguyễn Hoàng Anh T đã bị Toà án nhân dân huyện Bố T, tỉnh Quảng Bình, xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; Nguyễn Đăng T có hành vi tàng trữ trái phép 0,68gam chất ma túy thực vật khô, loại cần sa, sau đó cho Lê Hoài N để sử dụng. Hành vi đó chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Toàn, với mức phạt 3.500.000 đồng; Lê Quang M và Mai Hồng B hành nghề lái xe taxi, chở Lê Hoài N đi mua ma túy, nhưng M và B không biết N có hành vi phạm tội nên không xử lý. Các hành vi trên được nêu tại Bản án số 22/2024/HS-ST Ngày 16/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Cần buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2.Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/02/2026.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị Thu H 45 (Bốn mươi lăm) ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: không.

Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính 1.800.000 đồng (bằng chữ: Một triệu, tám trăm nghìn đồng chẵn).

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01(một) đĩa DVD đã được niêm phong bằng Phong bì niêm phong của Phòng CSĐTTP về Ma túy Công an tỉnh Quảng Trị có tên và chữ ký của những người niêm phong Bùi Thị T, Phan Mạnh G và hình dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị (kèm theo biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ ngày 10/02/2026 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị).

Vật chứng này hiện có tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Quảng Trị. Yêu cầu Phòng thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Quảng Trị bàn giao vật chứng là 01(một) đĩa DVD nêu trên cho Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị để lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

- Tịch thu sung công 01(một) phong bì thư, mặt ngoài có ghi nội dung: “857/KL-KTHS” “Mẫu cần giám định A”; các mép dán kín, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình có tên và chữ ký của những người tham gia niêm phong Nguyễn Hà Thái B, Bùi Thị T. Bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10s, màu đỏ, MEI (khe 1): 350835013868919, MEI (khe 2): 354741433868917 (kèm theo kết luận giám định số 857/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình).

- Trả lại cho Nguyễn Thị Thu H 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu đen có số IMEI: 353045092991718, gắn 01 thẻ sim. Đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy, màn hình trước bị vỡ.

Các vật chứng trên hiện có tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2026.

5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 , Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/6/2026) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ