vanban.org

Bản án 110/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ T đối với anh Lê Xuân H về việc “Ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn với anh Lê Xuân H. Về con chung: Buộc anh Lê Xuân H có nghĩa vụ giao con chung là Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày 15/02/2024 cho chị Nguyễn Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Trúc - Hòa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ T đối với anh Lê Xuân H về việc “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4- LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2026/HNGĐ- ST
Ngày : 12-6-2026
V/v tranh chấp: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LÂM ĐỒNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Phạm Thị Tư

2. Ông Vũ Khắc Quế

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 6 năm 2026, tại hội trường xét xử Tòa án nhân khu vực 4-Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 31/2026/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 2002

Địa chỉ: Số 132, thôn 8, xã Gia H, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Anh Lê Xuân H, sinh năm 1998 Địa chỉ: Số 46 Nguyễn Thị Minh K, thôn 10, xã Di L, tỉnh Lâm Đồng

(Chị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/01/2026 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Lê Xuân H chung sống với nhau từ năm 2023, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Di L, huyện Di L (nay là UBND xã Di L), tỉnh Lâm Đồng ngày 29/11/2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thị trấn Di L, huyện Di L (nay là xã Di L) cùng gia đình anh H, đến đầu năm 2025 vợ chồng mâu thuẫn nên đã ly thân đến nay.

Quá trình chung sống, đời sống vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận. Đến đầu năm 2025 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung do bất đồng quan điểm sống. Chị T trình bày cả hai không hòa hợp về mọi mặt. Tình cảm vợ chồng phai nhạt, không thể hàn gắn đoàn tụ nên đã ly thân, chị T về nhà mẹ đẻ tại xã Gia H sinh sống, anh H ở cùng bố mẹ tại xã Di L. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị T yêu cầu giải quyết ly hôn với anh H.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh H có 01 con chung tên là Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày 15/02/2024. Hiện nay con chung đang ở với chị T, chị T đủ khả năng nuôi con. Nay ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con chung đến khi đủ 18 tuổi, chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng hàng tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị T và anh H không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị T và anh H không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Anh Lê Xuân H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và H giải.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và H giải ngày 14/4/2026 nhưng không thành.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn yêu cầu vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Kết thúc phần tranh luận, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T và anh H được ly hôn. Về con chung cần xem xét giao con chung là Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày 15/02/2024 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng hàng tháng khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung không có và không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí để nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Xuân H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ T và anh Lê Xuân H chung sống tự nguyện từ năm 2023, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Di L, huyện Di L (nay là xã Di L), tỉnh Lâm Đồng ngày 29/11/2023. Đây là quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Chị T thừa nhận quá trình chung sống, đời sống vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận. Đến đầu năm 2025 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cả hai không hòa hợp về mọi mặt, tình cảm vợ chồng phai nhạt không thể hàn gắn nên đã ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có xác minh về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H được biết mâu thuẫn là có thật, phát sinh từ việc anh H chơi bời dẫn đến nợ nần, không chăm lo cho đời sống vợ con và gia đình, vợ chồng đã ly thân. Tòa án đã tiến hành H giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị T có mặt, anh H vắng mặt nên hòa giải đoàn tụ không thành. Xét hôn nhân giữa chị T và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị T được ly hôn với anh H là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về con chung: Căn cứ lời trình bày của chị T, bản khai sinh chị T nộp tại Tòa án thì chị T và anh H có 01 con chung tên là Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày 15/02/2024. Hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi con chung và có đủ điều kiện nuôi con. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung đến khi đủ 18 tuổi, anh H không đến làm việc nên không có ý kiến về con chung. Con chung hiện nay dưới 36 tháng tuổi, vì vậy, xét thấy để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con, căn cứ vào các điều 70, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần giao con chung Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày 15/02/2024 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là đúng pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Xét yêu cầu của chị T đối với anh H cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng hàng tháng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với tình hình thực tế nuôi con hiện nay, cũng như tại địa phương và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần xem xét chấp nhận.

Về tài sản chung: Chị T xác nhận chị và anh H không có tài sản chung không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị T xác nhận chị và anh H không có nợ chung, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật TTDS, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Cần buộc chị Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ T đối với anh Lê Xuân H về việc “Ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn với anh Lê Xuân H.

2. Về con chung: Buộc anh Lê Xuân H có nghĩa vụ giao con chung là Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày 15/02/2024 cho chị Nguyễn Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng hàng tháng đến khi đủ 18 tuổi.

Quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp tại biên lai nộp tiền số 0000653 ngày 12 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ