vanban.org

Bản án 110/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 08/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thảo M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thảo M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án; có khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 22/10/2024 đến ngày 31/10/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thảo My - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thảo M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HS-ST
Ngày 08 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Mỹ

Ông Mai Văn Bé Em

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Tiêu Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 21/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/HSST-QĐ ngày 24/3/2025 đối với bị cáo:

Lê Thảo M (tên gọi khác: M C), sinh ngày 31/8/1999, tại Rạch Giá, Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 75/8 đường P, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Lê Thu V (không rõ họ tên cha); có chồng là Bùi Đức H (đã ly hôn) và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 22/10/2024 đến ngày 31/10/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng: Ông Trần Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Nơi cư trú: đường L, phường A, thành phố Rtỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 22/10/2024 tại nhà số 75/8 đường P, khu phố 4, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố Rạch Giá kết hợp với Công an phường An Bình bắt quả tang Lê Thảo M về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trong phòng ngủ trên gác của M: 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có chứa 02 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong mỗi bịch có chứa các hạt chất rắn, màu trắng, không đồng nhất (M khai là ma túy đá); 01 bình thủy tinh, phía trên bình có gắn một đoạn ống thủy tinh và một đoạn ống nhựa màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen (bút lục số 1-3 và 59-66).

Quá trình điều tra Lê Thảo M khai nhận: Bắt đầu sử dụng ma túy khoảng 01 năm nay nhưng không sử dụng thường xuyên. Vào khoảng 09 giờ, ngày 22/10/2024 M có nhu cầu sử dụng ma túy nên M sử dụng điện thoại Redmi, màu đen gọi cho người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực trường Ischool, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang mua với giá 1.500.000 đồng, với mục địch sử dụng cá nhân thì bị bắt quả tang (bút lục số 1-3 và 63-66).

Vật chứng thu giữ được trong vụ án:

- 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có chứa 02 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong mỗi bịch có chứa các hạt chất rắn, màu trắng, không đồng nhất;

- 01 bình thủy tinh, phía trên bình có gắn một đoạn ống thủy tinh và một đoạn ống nhựa màu trắng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, số Imei 865553062864683/78, đã qua sử dụng (bút lục số 1-3 và 14).

Tại bản kết luận giám định số: 1147/KL-KTHS, ngày 27/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 3,5752 gam.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định trên.

Ngày 30/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê Thảo M để điều tra.

Đối với người đàn ông tên T đã bán ma túy cho Lê Thảo M, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số: 92/CT-VKSRG ngày 21/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Lê Thảo M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thảo M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Thảo M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số: 1190/2024 ngày 29/10/2024, có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Biểu và hình dấu mộc tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 bình nhựa có nắp màu vàng, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng và một ống thủy tinh có đầu phình to (nỏ).

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, số Imei 865553062864683/78, đã qua sử dụng; là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, mong được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lê Thảo M khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 22/10/2024, tại nhà số 75/8 đường P, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố Rạch Giá kết hợp cùng Công an phường An Bình tiến hành kiểm tra và đã bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy; số ma túy thu giữ được trong phòng ngủ trên gác của bị cáo qua giám định xác định là chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 3,5752 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận mục đích bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng. Nguồn gốc số ma tuý bị bắt quả tang là do trước đó vào khoảng 09 giờ, ngày 22/10/2024, bị cáo sử dụng điện thoại di động Redmi của bị cáo để liên hệ mua ma túy từ một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) ở khu vực trường Ischool, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang với số tiền 1.500.000 đồng.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: điểm c: … Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét thấy, bị cáo nhận tội do thực sự thành khẩn, lời khai nhận của bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kiên Giang cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đối chiếu hành vi của bị cáo với quy định của Bộ luật hình sự đã đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Lê Thảo M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Ma túy gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, an ninh trật tự, đạo đức lối sống, trở thành một hiểm hoạ lớn đối với toàn xã hội, đe doạ trực tiếp đến cuộc sống của mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được tác hại của việc sử dụng ma túy sẽ gây tổn hại lâu dài đến thể chất, tinh thần của con người và trái quy định của pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo; góp phần ngăn chặn, làm giảm các loại tội phạm về ma túy, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự nên được xem là có nhân thân tốt.

Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định, cải tạo bị cáo thành công dân biết tôn trọng pháp luật; qua đó đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác đấu tranh với tội phạm ma tuý.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số: 1190/2024 ngày 29/10/2024, có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Biểu và hình dấu mộc tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 bình nhựa có nắp màu vàng, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng và một ống thủy tinh có đầu phình to (nỏ).

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, số Imei 865553062864683/78, đã qua sử dụng; do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thảo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thảo M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Thảo M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án; có khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 22/10/2024 đến ngày 31/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số: 1190/2024 ngày 29/10/2024, có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Biểu và hình dấu mộc tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 bình nhựa có nắp màu vàng, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng và một ống thủy tinh có đầu phình to (nỏ).

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, số Imei 865553062864683/78, đã qua sử dụng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 65/QĐ-VKS ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thảo M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ