- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2025/HS-ST Ngày: 25 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Phan Thị Dòn
2/ Bà Hoàng Thị V
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Diệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Thuận – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2025/TLST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST – HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lâm Bái V; giới tính: Nam; sinh năm 1982, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 133/19 Huỳnh M, Phường 7, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Lâm K; họ tên mẹ: Trịnh Kiến K; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ tên: Nhâm Cẩm L, có 01 người con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2024 (có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Đức Q; giới tính: Nam; sinh năm: 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 214/615 Hàn H, Phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Công nhân; Họ tên cha: Nguyễn Đức V; họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hồng T; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 12/7/2024 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12/7/2024, Nguyễn Đức Q từ nhà trọ tại ấp Bình Tả 2, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đến phòng trọ của Lâm Bái V tại nhà không số, ấp 11, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh để chơi. Do trước đó cả hai đã từng sử dụng ma túy chung với nhau một lần (cả hai không nhớ rõ thời gian, địa điểm và ma túy sử dụng loại gì) nên trong lúc nói chuyện, V lên tiếng nói: “Lâu lâu làm cái nhẹ không” thì Q hiểu là V rủ hùn tiền mua ma túy sử dụng chung, Q đồng ý. Cả hai thống nhất mỗi người hùn 100.000 đồng nhưng do V không có tiền nên Q cho V mượn. Q đưa cho V 200.000 đồng để V đi đến khu vực bờ Kênh trên địa bàn xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh gặp một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đá loại Methamphetamine với giá 200.000 đồng. Khoảng 30 phút sau, V mang ma túy về phòng trọ. Tại đây, V lấy ra một kim tiêm nhựa và một ống nước cất đã qua sử dụng trước đó của V rồi dùng bếp lửa đốt nóng để V và Q lần lượt sử dụng, mỗi người hút được 04 lần.
Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, Công an xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh tiến hành kiểm tra tại phòng trọ của V phát hiện Q và V đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Lực lượng Công an thu giữ trên sàn nhà 01 gói nylon chứa tinh thể qua giám định là ma túy thể rắn có khối lượng 0,2489 gam, loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bật lửa và 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu. Tổ công tác lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở Công an xã Vĩnh Lộc B để làm việc, lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thụ lý, điều tra, giải quyết.
Kết quả xét nghiệm đối với Nguyễn Đức Q và Lâm Bái V đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số 8388/KL-KTHS ngày 19/07/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy thể rắn có khối lượng 0,2489g, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án: 01 gói nylon chứa tinh thể qua giám định có khối lượng 0,2489g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (sau giám định còn 0,1322 gam); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 đoạn ống hút nhựa được cắt nhọn một đầu; 01 bật lửa; 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số Imei 1: 353263210850886, Imei 2: 359377370850884 cùng 02 sim có số thuê bao 0327.795.708 và 0866.592.734 của Nguyễn Đức Q dùng để liên lạc cá nhân; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei 1: 35778306812386, Imei 2: 35778306812387 cùng 01 sim có số thuê bao 0343.072.242 của Lâm Bái V dùng để liên lạc cá nhân.
Tại bản Cáo trạng số 118/CT – VKS – H.BC ngày 14 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lâm Bái V và Nguyễn Đức Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa các bị cáo Lâm Bái V và Nguyễn Đức Q đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố các bị cáo. Các bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Xử phạt bị cáo Lâm Bái V từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa các bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lâm Bái V và Nguyễn Đức Q tại tòa hoàn toàn phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 109 – 118; 129 - 141); phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết luận giám định vật chứng, cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[3] Ngày 12/7/2024, các bị cáo Lâm Bái V và Nguyễn Đức Q có hành vi hùn tiền mua ma túy về để sử dụng chung với nhau tại nhà của bị cáo V tại địa chỉ nhà không số ấp 11, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang vào lúc 15 giờ 00 phút cùng ngày. Qua thẩm tra, xét hỏi cùng các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Q là người đưa tiền để cho V đi mua túy, bị cáo V sử dụng địa điểm nhà trọ của mình để cả hai cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại nhà trọ của bị cáo V thì V đã châm lửa đốt ma túy cho bị cáo Q sử dụng hai lần và bị cáo Q cũng châm lửa đốt ma túy cho bị cáo V sử dụng hai lần.
[4] Với những tình tiết được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lâm Bái V và Nguyễn Đức Q đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại thời điểm bắt quả tang thu giữ của các bị cáo 0,2489g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (Kết luận giám định số 8388/KL-KTHS ngày 19/07/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh), số ma túy này các bị cáo hùn tiền mua nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa sử dụng hết. Do đó, các bị cáo còn phạm thêm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo với các tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[5] Đây là vụ án có đồng phạm các bị cáo đều là những người nghiện ma túy, cùng hùn tiền mua ma túy về sử dụng chung tại nhà của Vân; bị cáo V với vai trò chính là người trực tiếp đi mua ma túy, cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy; bị cáo Q với vai trò là đồng phạm giúp sức đưa tiền cho cho bị cáo V mua ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, gây hệ lụy xấu cho xã hội. Do vậy, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[6] Các bị cáo phạm 02 tội, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo.
[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và đã tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[7] Các bị cáo khai trước đó có sử dụng ma túy chung với nhau một lần nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm, ma túy sử dụng loại gì, ai cung cấp ma túy nên Hội đồng xét xử không có cở sở xử lý các bị cáo phạm tội thuộc 02 lần trở lên là có căn cứ.
[8] Xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 gói nylon chứa tinh thể qua giám định có khối lượng 0,2489g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (sau giám định còn 0,1322 gam); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 đoạn ống hút nhựa được cắt nhọn một đầu; 01 bật lửa, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị, Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ theo điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số Imei 1: 353263210850886, Imei 2: 359377370850884 cùng 02 sim có số thuê bao 0327.795.708 và 0866.592.734 thu của bị cáo Quang; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei 1: 35778306812386, Imei 2: 35778306812387 cùng 01 sim có số thuê bao 0343.072.242 thu giữ của bị cáo Vân. Đây là tài sản của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho các bị cáo nhưng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.
[9] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt các bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; Khoản 1, Khoản 5 Điều 255; Điều 17,
Điều 35, Điều 38, Điều 50, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lâm Bái Vân.
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; Khoản 1, Khoản 5 Điều 255; Điều 17,
Điều 35, Điều 38, Điều 50, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Đức Quang.
Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Lâm Bái V 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai tội là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2024.
Xử phạt bổ sung bị cáo Lâm Bái V số tiền 10.000.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai tội là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2024.
Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đức Q số tiền 10.000.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon chứa tinh thể qua giám định có khối lượng 0,2489 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (sau giám định còn 0,1322 gam); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 đoạn ống hút nhựa được cắt nhọn một đầu; 01 bật lửa.
Tạm giữ của bị cáo Lâm Bái V 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei 1: 35778306812386, Imei 2: 35778306812387 cùng 01 sim có số thuê bao 0343.072.242 để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo V trong vụ án này.
Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Đức Q 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số Imei 1: 353263210850886, Imei 2: 359377370850884 cùng 02 sim có số thuê bao 0327.795.708 và 0866.592.734 để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo Q trong vụ án này.
(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao nhận vật chứng được lập vào hồi 13 giờ ngày 14/3/2025 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND H.BC; - Trạm tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực huyện Bình Chánh; - Chi cục THADS H.BC; - Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06; - Trại tạm giam đang giam, giữ bị cáo; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Sơn |