- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc C + 01 BC phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 64 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2025/HS-PT Ngày 08 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hà
Các Thẩm phán:
1. Ông Trịnh Văn Toàn
2. Ông Nguyễn Ngọc Sâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 101/2025/TLHS-PT ngày 24/3/2025, đối với bị cáo Nguyễn Quốc C và đồng phạm về tội “Đánh bạc”, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Quốc C; sinh năm 1992 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Thôn 02, xã IR, huyện ES, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 07/12; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị B1 (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị H và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2024 đến ngày 21/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
2. Trần Thị H, sinh năm 1995 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Thôn 02, xã IR, huyện ES, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; con ông Trần Văn B2 và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có chồng là Nguyễn Quốc C và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 02/3/2016, Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 04/2016/HSST, đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2024 đến ngày 21/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo khác và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 15/7/2024, Nguyễn Quốc C và Trần Thị H tổ chức cho: Nguyễn Văn T; Thái Văn S, Nguyễn Văn C1; Nguyễn Duy L1; Nguyễn Văn L2, cùng trú tại: Thôn 2, xã IR, huyện ES xem trận bóng đá giữa hai đội tuyển Tây Ban Nha và Anh diễn ra vào lúc 02 giờ ngày 15/7/2024, trong khuôn khổ giải bóng đá vô địch Châu Âu Euro 2024. Quá trình xem bóng đá, những người này đã tham gia cá cược với C, H như sau:
Thái Văn S đặt cược đội tuyển Anh thắng cả trận đấu với số tiền 500.000 đồng; đặt cược xỉu cả trận với số tiền 500.000 đồng. Qua đối chiếu với kết quả của trận đấu, S thua 02 lần đặt cược với số tiền là 1.000.000 đồng. Số tiền S sử dụng đánh bạc là 1.000.000 đồng.
Nguyễn Văn C1 đặt cược đội tuyển Anh thắng cả trận với số tiền 500.000 đồng, đặt cược tài cả trận với số tiền 500.000 đồng. Qua đối chiếu với kết quả của trận đấu, C1 thua 01 lần đặt cược với số tiền là 500.000 đồng và thắng 01 lần đặt cược với số tiền 450.000 đồng. Số tiền C1 sử dụng đánh bạc là 1.450.000 đồng.
Nguyễn Duy L1 tham gia đặt cược Tây Ban Nha thắng cả trận với số tiền 100.000 đồng. Qua đối chiếu với kết quả của trận đấu, L1 thắng số tiền 90.000 đồng. Số tiền L1 sử dụng đánh bạc là 190.000 đồng.
Nguyễn Văn L2 tham gia đặt cược Tây Ban Nha thắng cả trận với số tiền 100.000 đồng. Qua đối chiếu với kết quả của trận đấu, L2 thắng số tiền 90.000 đồng. Số tiền L2 sử dụng đánh bạc là 190.000 đồng.
Ngô Văn L3 tham gia đặt cược Tây Ban Nha thắng cả trận với số tiền 500.000 đồng. Qua đối chiếu với kết quả của trận đấu, L3 thắng được số tiền 450.000 đồng. Số tiền L3 sử dụng đánh bạc là 950.000 đồng.
Nguyễn Văn T tham gia đặt cược với Trần Thị H: Anh thắng cả trận với số tiền 8.000.000 đồng và đặt cược hiệp thi đấu thứ nhất Anh thắng với số tiền 9.000.000 đồng. Qua đối chiếu với kết quả của trận đấu, T thắng 01 lần đặt cược với số tiền là 2.925.000 đồng và thua 01 lần đặt cược với số tiền 8.000.000 đ đồng (số tiền T dùng để đánh bạc với H, C là 19.925.000 đồng). Ngoài ra, Nguyễn Văn T còn đứng ra nhận cá cược với Nguyễn Việt H1 (sinh năm 1975, trú tại: Thôn 2, xã IR, huyện ES) và Nguyễn Văn N (sinh năm 1985, trú tại: Thôn 8, xã IR, huyện ES), cụ thể: Nguyễn Văn N đặt cược đội tuyển Anh thắng cả trận với số tiền 10.000.000 đồng và đặt cược đội tuyển Anh thắng ở hiệp thi đấu thứ nhất với số tiền 10.000.000 đồng; qua đối chiếu với kết quả của trận đấu, N thắng 01 lần đặt cược với số tiền 3.250.000 đồng và thua 01 lần đặt cược với số tiền 10.000.000 đồng (số tiền N dùng đánh bạc là 23.250.000 đồng). Nguyễn Việt H1 đặt cược tài (tỉ số bàn thắng) ở hiệp thi đấu thứ nhất với số tiền 1.000.000 đồng và đặt cược tài (tỉ số bàn thắng) cả trận với số tiền 1.000.000 đồng. Qua đối chiếu với kết quả của trận đấu, H1 thắng 01 lần đặt cược với số tiền 900.000 đồng và thua 01 lần đặt cược với số tiền 1.000.000 đồng (số tiền H1 dùng đánh bạc là 2.900.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn T trong trận bóng đá này là 46.075.000 đồng.
Đối với Nguyễn Quốc C và Trần Thị H cùng nhau nhận cá cược của các con bạc nên số tiền đánh bạc của Cường và Hoa là tổng số tiền các con bạc đã đặt cược và số tiền mà các con bạc thắng cược. Vì vậy, tổng số tiền đánh bạc của Cường và Hoa trong trận bóng đá này là 23.705.000 đồng.
Ngoài ra, vào ngày 14/7/2024, Nguyễn Quốc C và Trần Thị H còn tham gia cá độ bóng đá với Nguyễn Văn T trong trận bóng diễn ra giữa hai đội tuyển Uruguay và Canada tại giải bóng đá vô địch Nam Mỹ Copa America 2024, cụ thể: Nguyễn Văn T tham gia đặt cược 04 lần với tổng số tiền đặt cược là 21.000.000 đồng. Qua đối chiếu với kết quả của trận đấu T thắng 02 lần cá cược với số tiền 9.900.000 đồng và thua 02 lần đặt cược với số tiền 10.000.000đ đồng. Như vậy, số tiền C, H và T đánh bạc trong trận bóng này là 30.900.000 đồng. Các đối tượng tham gia đánh bạc đều chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp đã tạm giữ vật chứng gồm:
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, loại Y36, màu xanh của Nguyễn Văn T dùng để đánh bạc;
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại A53, màu xanh của Nguyễn Quốc C dùng để đánh bạc;
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại RENO 7Z 5G, màu đen của Trần Thị H dùng để đánh bạc;
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Real me narzo 50i prime, màu xanh của Nguyễn Văn N dùng để đánh bạc;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại Reno 7 của Nguyễn Việt H1 dùng để đánh bạc;
- 01 vở, loại ô ly, nhiều màu, trang đầu tiên có dòng chữ CÔNG TY QUYẾT THẮNG dùng để đánh bạc;
- Số tiền 10.800.000 đồng trên người Nguyễn Văn T không dùng vào mục đích đánh bạc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ ngày 15/7/2024 đến ngày 21/7/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 15/7/2024 đến ngày 21/7/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/02/2025 các bị cáo Nguyễn Quốc C và Trần Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quốc C và Trần Thị H thay đổi một phần nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Quá trình tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo có phần nghiêm khắc, bởi lẽ: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; 02 bị cáo là vợ chồng, 02 con của các bị cáo còn rất nhỏ; gia đình thuộc diện hộ nghèo, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; nếu xử phạt cả 02 bị cáo tù giam sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các cháu. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo để sửa bản án sơ thẩm theo hướng xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C 03 năm cải tạo không giam giữ và xử phạt bị cáo Trần Thị H 01 năm 03 tháng tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì và đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 15/7/2024, tại thôn 02, xã IR, huyện ES, tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Quốc C, Trần Thị H thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với Nguyễn Văn T, Thái Văn S, Nguyễn Văn C1, Ngyễn Duy L1, Nguyễn Văn L2, Ngô Văn L3 trong trận bóng đá giữa hai đội tuyển Tây Ban Nha và Anh trong khuôn khổ giải bóng đá vô địch Châu Âu Euro 2024. Tổng số tiền Nguyễn Quốc C, Trần Thị H dùng để đánh bạc trong trận này là 23.705.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án xác định được ngày 14/7/2024, Nguyễn Quốc C, Trần Thị H còn thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với Nguyễn Văn T trấn đấu giữa hai đội tuyển Uruguay và Canada tại Giải bóng đá vô địch Nam Mỹ Copa America 2024. Tổng số tiền Nguyễn Quốc C, Trần Thị H dùng để đánh bạc trong trận này là 30.900.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H, thì thấy:
Ngày 15/7/2024, khi bị bắt quả tang thì các bị cáo Nguyễn Quốc C và Trần Thị H đã tự thú và khai báo ra lần thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá với Nguyễn Văn T vào ngày 14/7/2025 trong trận bóng giữa Uruguay - Canada. Nhưng tòa án cấp sơ thẩm chưa áp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo C, H là thiếu sót.
Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù với số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, trong khi đó các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc 02 lần với số tiền lớn (23.705.000 đồng và 30.900.000 đồng) nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 01 năm 06 tháng tù và bị cáo C 01 năm 03 tháng tù là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi các bị cáo đã thực hiện nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.
Mặc dù, các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” nhưng các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình giải quyết vụ án các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo cũng đã tự thú, khai báo ra lần phạm tội khác; các bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh rất khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, con của các bị cáo còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo; đồng thời, vẫn đảm bảo đúng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Quốc C và Trần Thị H.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H
- Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt.
[1] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 64 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H cho Ủy ban nhân dân xã IR, huyện ES, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc C, Trần Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Công an tỉnh Đắk Lắk (PV06); - TAND huyện Ea Súp; - VKSND huyện Ea Súp; - CCTHADS huyện ES; - UBND xã IR, huyện ES; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Quốc Hà |