- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2024/HSST Ngày 18- 07 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:bà Cầm Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Ngoan
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLST - HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án số 111/2024/QĐXXST - HS ngày 08/7/2024 đối với bị cáo:
Cà Ngọc D (tên gọi khác: Hà Ngọc D), sinh ngày 08 tháng 3 năm 1988 tại thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La; Nơi thường trú và nơi ở: Bản M, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Cà Văn L (đã chết) và bà Tòng Thị Đ, sinh năm 1962, bị cáo có vợ là Lò Thị Lưu L, sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/01/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 28/9/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 18/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt từ ngày 23 tháng 03 năm 2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 05 phút ngày 23/3/2024, tổ công tác Công an phường Chiềng Lề thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 02, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang Cà Ngọc D đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy ở trong lòng bàn tay trái 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, do D tự giác đem ra nộp và khai nhận đó là ma túy Heroine D mua để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói ni lon màu trắng có chứa cục bột màu trắng nghi là Heroine Cà Ngọc D tự giác lấy trong bàn tay trái của D ra giao nộp, bị cáo khai nhận đó là ma túy Heroine bị cáo vừa mua và cất giấu với mục đích sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Ngày 23/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Cà Ngọc D, kết quả: Số cục bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 0,27 gam, trích 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu C. Còn lại 0,18 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu D.
Kết luận giám định số 748/KL-KTHS ngày 24/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphinc, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam.Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,27 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/03/2024, Cà Ngọc D đi bộ dọc theo đường kè suối thuộc khu vực Bản Cọ, phường Chiềng An, thành phố Sơn La, tỉnh sơn La đến khu vực cầu Nậm La thuộc tổ 2, phường Chiềng Lề, thành phố sơn La tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây D gặp 01 người nam giới không quen biết khoảng 40 tuổi nhìn giống người sử dụng ma túy đang đứng bên đường D đi bộ lại gần hỏi mua ma túy, qua trao đổi D đã mua được của người thanh niên đó 01 ni lon màu trắng có chứa cục bột màu trắng với giá 200.000VNĐ, mua bán xong D cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng, khi đang đi trên đường Lò Văn Giá thuộc tổ 2, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La thì bị tổ công tác Công An phường Chiềng Lề thành phố Sơn La phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc số ma tuý trong vụ án, Cà Ngọc D khai nhận mua của người nam giới không quen biết vào ngày 23/3/2024 tại khu vực tổ 2, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ nào khác để xác minh, điều tra mở rộng vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 239/CT-VKS ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Cà Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Cà Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Cà Ngọc D từ 18 đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 0,18 gam Heroine ký hiệu là D, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ni lon màu trắng.
Trả lại cho bị cáo một căn cước công dân mang tên Cà Ngọc D.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 23/3/2024 bị cáo Cà Ngọc D đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,27 gam chất ma tuý là Heroine nhằm mục đích cùng sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 02, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Bản tường trình, lời khai nhận tội của bị cáo.
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 10 phút ngày 23/3/2024 tại tổ 2, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Cà Ngọc D cùng vật chứng thu giữ là 01 gói ni lon màu trắng có chứa cục bột màu trắng D khai là Heroine D mua cất giữ để sử dụng.
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 748/KL-KTHS ngày 24/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của ông Phạm Văn T, sinh năm 1956, trú tại tổ 2, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.
Từ các căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ trái phép 0,27 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Cà Ngọc D đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo Cà Ngọc D đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,27 gam, loại Heroine đã vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã 03 lần bị Tòa án xét xử tuy nhiên các bản án đã được đương nhiên xóa án cụ thể: Ngày 21/01/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 28/9/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 18/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 23/3/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ chất ma túy.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác do đó cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc 0,27 gam Heroine bị thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo khai nhận mua của một người nam giới không quen biết vào ngày23/3/2024 tại khu vực tổ 2, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Nên Cơ quan Cảnh Sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Đối với 01 căn cước công dân thu giữ của Cà Ngọc D là giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo quản lý và sử dụng.
[7] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,18 gam Heroine ký hiệu D hiện đang lưu kho vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015,cần tịch thu và tiêu hủy.
[8] Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t:
̀
Căn cứ vào c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Cà Ngọc D (tên gọi khác Hà Ngọc D) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Cà Ngọc D (tên khác Hà Ngọc D) 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 03 năm 2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng và 0,18 (không phẩy mười tám) gam Heroine ký hiệu D (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 084316 và 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La).
Trả lại cho bị cáo Cà Ngọc D 01 (một) căn cước công dân số 014088012679 do cục CSQLHC về TTXH Bộ Công an cấp ngày 06/8/2023 mang tên Cà Ngọc D
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Cà Ngọc D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh
̀ sự: Bị cáo Cà Ngọc D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/7/2024).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - Chi cục THADS thành phố Sơn La; - Trại giam; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Cầm Thị Thanh Huyền |