- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Lê Văn Đức và Phạm Văn Phú"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2024/DSPT Ngày: 31-10-2024 V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử Pc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công; bà Cao Thị Thanh Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Ly – Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử Pc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 94/2024/TLPT-DS ngày 10-10-2024 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 19-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử Pc thẩm số: 170/2024/QĐ-PT ngày 17-10-2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn Đvà bà Đỗ Thị Kim L; địa chỉ: Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn P; địa chỉ: Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
*Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-Nguyên đơn là ông Lê Văn Đvà bà Đỗ Thị Kim L trình bày: Ngày 13/12/2023, ông Phạm Văn P tự ý lấy hình ảnh và thông tin cá nhân của vợ chồng ông Đ, bà L đem đi phóng to in thành băng rôn treo công khai trước nhà ông P tại Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để bà con làng xóm đến xem, nhằm xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của vợ chồng ông Đ, bà L. Ông Đ, bà L đã báo Công an xã Ia Grăng đến yêu cầu ông P tháo gỡ, thu hồi băng rôn. Ngày 17/12/2023, ông P vẫn dùng hình ảnh, nội dung này đăng trên trang Facebook “Công an huyện I” và trên trang Facebook của bà L. Ông Đ, bà L phải đến Công an huyện I tố cáo yêu cầu ông P gỡ bài đăng xuống. Đến ngày 29/01/2024, ông P che mờ hình ảnh vợ chồng ông Đ, bà L, cố tình tiếp tục đăng lên mạng xã hội, phát tán làm xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của ông Đ, bà L. Ông Đ, bà L khởi kiện yêu cầu ông P phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền là 50.000.000 đồng. Tại phiên toà sơ thẩm, ông Đ và bà L rút một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông P bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần mỗi người là 18.000.000 đồng.
-Bị đơn là ông Phạm Văn P trình bày: Vào khoảng tháng 10-2023, vợ chồng ông Đ và bà L đến nhà ông P thỏa thuận chốt giá bán cà phê với số lượng 08 tấn, giá là 11.000 đồng/kg cà phê tươi. Đến mùa vụ, giá cà phê thị trường lên cao hơn giá bán đã thỏa thuận thì ông Đ có nói với ông P là hủy hợp đồng nhưng ông P không đồng ý. Sau đó, ông Đ và bà L không bán cà phê cho ông P như đã thỏa thuận trước đó. Sau đó, ông P có gặp ông Đ và bà L hỏi tại sao không cân cà cho ông P như đã thỏa thuận chốt giá thì ông Đ và bà L đã chối bỏ và có những lời nói không hay với ông P. Ông P đã rất bức xúc vì ông Đ và bà L là người cùng làng, thường xuyên chơi với ông P nhưng chỉ vì giá cà phê lên cao mà trở mặt, lật lọng. Do đó, ông P đã in băng rôn treo tại nhà và đăng trang mạng Facebook “Công an huyện I” theo đúng như nội dung 04 bản ảnh mà ông Đ và bà L đã nộp cho Toà án. Mục đích của ông P in băng rôn treo tại nhà để nói lên sự thật cho mọi người cùng biết chứ không làm xúc phạm danh dự nhân phẩm của ông Đ và bà L nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ và bà L. Việc ông P đăng hình ảnh ông Đ, bà L trên mạng xã hội cũng đã bị công an huyện I xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 7.500.000 đồng.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 19-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Áp dụng các Điều: 144, 147 của ộ luật tố tụng dân sự; các Điều: 32, 34, 584, 585, 586, 592 của ộ luật dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đvà bà Đỗ Thị Kim L. Buộc ông Phạm Văn P phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho ông Lê Văn Đvà bà Đỗ Thị Kim L với số tiền là 9.360.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; nghĩa vụ chịu khoản lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ; thông báo quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc cưỡng chế thi hành án và thời hiệu thi hành án; quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 27-8-2024, bị đơn ông Phạm Đ P kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
-Tại phiên tòa Pc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới; không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn Pc thẩm. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 19-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện I.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người kháng cáo trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí dân sự Pc thẩm nên được xem xét theo trình tự Pc thẩm.
Xét kháng cáo của ông Phạm Văn P, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Phạm Văn P thừa nhận do bức xức việc ông Đ, bà L đã thỏa thuận chốt giá cà phê bán cho ông P, sau đó giá cà phê lên thì lật lọng không bán nữa nên ông P đã có hành vi in băng rôn với nội dung “BẤT TÍN ĐƠN PHƯƠNG HUỶ CHỐT GIÁ; CHỒNG: LÊ VĂN Đ, VỢ ĐỖ THỊ L; ĐC: LÀNG K, XÃ I, IA GRAI, GIA LAI; CÓ CHỐT GIÁ BÁN CÀ PHÊ CHO ANH PHẠM VĂN P SỐ LƯỢNG 8 TẤN GIÁ 11. KHI GIÁ CÀ LÊN VỢ CHỒNG Đ L TỰ Ý HUỶ HỢP ĐỒNG, KO CÂN CÀ CHO ANH P; BẠN À NĂM TRƯỚC GIÁ XUỐNG TÔI VẪN CÂN CÀ CHO BỐ BẠN, NĂM NAY CÀ LÊN ẠN HUỶ HỢP ĐỒNG; BẠN À TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC DANH DỰ ĐÂU” treo công khai trước nhà ông P; dùng hình ảnh của ông Đ, bà L cùng nội dung trên đăng trên trang Facebook “Công an huyện I” và trên trang Facebook của bà L, đã làm cho ông Đ và bà L bị sa sút về tinh thần, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt bình thường của gia đình; bị người thân, bạn bè liên tục gọi điện trách cứ; công việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn, bị Công an mời lên làm việc nhiều lần ảnh hưởng đến thời gian làm việc, làm cho thu nhập thực tế bị giảm sút. Hành vi nêu trên của ông P cũng đã bị Công an huyện I ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về “Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định”. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ và L, buộc ông P phải bồi thường tổn thất về tinh thần là có căn cứ. Tại phiên tòa Pc thẩm, người kháng cáo là ông P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên toà sơ thẩm, ông Đ và bà L rút một phần yêu cầu khởi kiện, từ 50 triệu đồng xuống 18 triệu đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận, nhưng không đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đương sự đã rút theo khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, là có thiếu sót. Nhưng điều đó không làm sai lệch bản chất nội dung vụ án, không xâm phạm đến quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự. Do đó, Hội đồng xét xử cấp Pc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí dân sự Pc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự Pc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ các Điều: 147, 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đvà bà Đỗ Thị Kim L. Buộc ông Phạm Văn P phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho ông Lê Văn Đvà bà Đỗ Thị Kim L với số tiền là 9.360.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phạm Văn P phải chịu 468.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Án phí dân sự Pc thẩm: Buộc ông Phạm Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự Pc thẩm và được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự Pc thẩm theo Biên lai số 0009706 ngày 13-9-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện I, tỉnh Gia Lai. Ông P đã nộp đủ án phí Pc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND huyện I; - Chi cục THADS huyện I; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thưởng |