- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: V L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2023/HS-ST Ngày: 27-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, ông La Văn Hợp
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Đăng - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 và thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 15/TB-TA ngày 27/6/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: V L; Tên gọi khác: V L Lý; Sinh năm: 1988 tại Bình Phước; HKTT: phường Tân Đ, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; giới tinh: Nam; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ch và bà M (đều đã chết); Có vợ: V, sinh năm 1987 và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; Tiền sự: Không.
Tiền án:
-Ngày 18/4/2007 bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 26/2007/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/10/2007; chưa chấp hành khoản án phí hình sự 50.000 đồng.
-Ngày 16/6/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 52/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2012. Án phí hình sự và dân sự 400.000 đồng được miễn theo Quyết định số 57/QĐ-THA, ngày 29/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài. Khoản bồi thường 2.500.000đồng chấp hành ngày 23/12/2022 (sau ngày phạm tội).
Nhân thân: Ngày 15/01/2003, Chủ tịch UBND thị xã Đồng Xoài ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 24 tháng, ngày 17/01/2005 chấp hành xong.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu phố 3, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo V L: Ông LS, luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Phước. Địa chỉ: Văn phòng luật sư Phạm Quang Bình (Chi nhánh Bình Phước), số 1504, đường Phú Riềng Đỏ, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà V, sinh năm 1987. Trú tại: phường Tân Đ, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin vắng mặt.
*Người làm chứng:
- Ông LC 1, sinh năm 1958. Trú tại:, phường Tân Đ thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
- Ông LC 2, sinh năm 1960. Trú tại: phường Tân Đ, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 24/11/2022, V L nảy sinh ý định mua ma túy về cất giấu để sử dụng nên V L đã gọi điện thoại cho một người phụ nữ tên Thương (không rõ lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và hẹn giao ma túy tại nhà của V L tại khu phố 3, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước thì Thương đồng ý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi V L đang ở nhà thì Thương đến, tại đây V L đưa cho Thương số tiền 500.000 đồng, Thương đưa lại cho V L 01 gói nylon hàn kín mép bên trong chứa ma túy đá, sau khi giao dịch mua bán ma túy xong thì Thương bỏ đi, V L lấy gói ma túy mua được chia đôi bỏ vào trong 02 gói nylon hàn kín mép, sau khi chia ma túy xong, V L lấy 01 gói ma túy cất giấu trong túi quần jean đang treo trên tường trong phòng ngủ trong nhà, 01 gói ma túy còn lại V L trích ra một ít ma túy bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế để sử dụng, ma túy còn lại trong gói nylon thì V L hàn kín mép gói lại sau đó cất giấu trong túi quần luôn mang theo bên người. Khi đang sử dụng ma túy trong nỏ thủy tinh vẫn còn lại một ít ma túy chưa sử dụng hết thì V L không sử dụng nữa nên mang nỏ thủy tinh vẫn còn ma túy cất giấu vào trong chiếc hộp giấy để trên nóc tủ lạnh ở phòng bếp trong nhà với mục đích khi nào có nhu cầu thì tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 12 giờ ngày 05/12/2022 khi V L đang ở nhà một mình thì V L lấy gói ma túy đang cất giấu trong túi quần trích ra một ít cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, số ma túy còn lại trong gói nylon thì V L hàn kín mép gói, sau đó cất giấu ở nền nhà góc phòng khách. V L một mình sử dụng ma túy một lúc thì ngưng không sử dụng nữa, lúc này trong nỏ thủy tinh vẫn còn lại một ít ma túy đá chưa sử dụng hết nên V L cất giấu bộ dụng cụ này trên kệ nhà tắm với mục đích khi nào có nhu cầu thì lấy ra sử dụng. Đến 19 giờ 30 phút ngày 05/12/2022, khi V L đang ở nhà một mình thì lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính nơi ở của V L phát hiện trên nền nhà góc phòng khách trong nhà có 01 gói nylon hàn kín mép kích thước (1,2 x 0,8)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, tiếp tục kiểm tra lực lượng Công an phát hiện bên trong nỏ thủy tinh để trong hộp giấy trên nóc tủ lạnh ở phòng bếp trong nhà có chứa chất màu vàng. V L khai nhận với lực lượng Công an chất tinh thể màu trắng và chất màu vàng nói trên là ma túy tổng hợp dạng đá của V L, mục đích V L cất giấu là để khi nào có nhu cầu thì lấy ra sử dụng nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Qua khám xét căn nhà là nơi ở của V L, cơ quan công an phát hiện bên trong túi quần jean đang treo trên tường trong phòng ngủ trong nhà có 01 gói nylon hàn kín mép, kích thước (2,5 x 01)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, tiếp tục khám xét phát hiện bên trong nỏ thủy tinh của bộ sử dụng ma túy đá tự chế để trên kệ phòng tắm trong nhà có chứa chất màu vàng. Lúc này, V L khai nhận chất tinh thể màu trắng và chất màu vàng nói trên là ma túy tổng hợp dạng đá của V L, mục đích cất giấu là để khi nào có nhu cầu thì lấy ra sử dụng. Sau đó, lực lượng Công an đã niêm phong tang vật và đưa V L về trụ sở làm việc
Tại Kết luận giám định số 285/KL(MT)-KTHS ngày 13/12/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận:
- Chất màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: M1 = 0,0025 gam.
- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: M2 = 0,1264 gam.
- Chất màu vàng (ký hiệu M3) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: M3 = 0,0452 gam.
- Chất màu vàng (ký hiệu M4) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: M4 = 0,0671 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 92/CT-VKS ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo V L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với V L từ 06-07 năm tù; Về hình phạt bổ sung không áp dụng; Vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư ký hiệu số 285M2 ngày 06/12/2022 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong; 01 nỏ thủy tinh; 01 hộp giấy; 01 bộ sử dụng ma túy đá tự chế (gồm 01 khay nhựa, 01 đoạn ống hút, 01 nỏ thủy tinh); 01 cân điện tử đã cũ; 01 hộp giấy màu xanh; 02 kéo bằng kim loại; 02 hộp quẹt ga; 01 đoạn ống hút hàn kín một đầu màu xanh; Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại Vivo màu xanh tím thu giữ của bị cáo.
Bị cáo V L tại phiên tòa thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng; phần tranh luận: Bị cáo cho rằng đã đến cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài để nộp án phí nhiều lần nhưng cơ quan Thi hành án nói không có hồ sơ; lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Luật sư LS, người bào chữa cho bị cáo V L đề nghị Hội đồng xét xử xác minh các tình tiết: Việc chấp hành khoản án phí hình sự 50.000 đồng theo Bản án số 26/2007/HSST, ngày 18/4/2007, bị cáo có đến nộp nhưng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài trả lời chưa nhận được bản án của Tòa án; khoản bồi thường cho người bị hại Tr số tiền 2.500.000 đồng theo Bản án số 52/2011/HSST ngày 16/6/2011 đã được bị cáo Ng T (đồng phạm trong cùng vụ án) bồi thường thay cho bị cáo V L và đề nghị xác minh đối với ông Tr (ông Tr hiện đang chấp hành án tại Trại Giam Xuân Lộc, thuộc Cục C10, Bộ công an). Ngoài ra, người bào chữa thống nhất với tội danh Viện kiểm sát truy tố; Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó khăn phải nuôi 02 con còn nhỏ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xem xét mức phạt từ 01-02 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo V L khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án; kết luận giám định số 285/KL(MT)-KTHS ngày 13/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, vật chứng thu giữ được niêm phong có chữ ký của bị cáo qua giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,2412 gam; phù hợp với bản kết luận điều tra cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 24/11/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên V L mua ma túy từ một người phụ nữ tên Thương (không rõ lai lịch) tại khu phố 3, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, cất giữ, mục đích để sử dụng. Đến 19 giờ 30 phút ngày 05/12/2022 bị Công an thành phố Đồng Xoài kiểm tra hành chính bắt quả tang thu giữ số ma túy còn lại. Hành vi của V L thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét về lỗi, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bản thân là người có đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn nhận thức được việc cất giấu ma túy để sử dụng là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo cố tình thực hiện. Hành vi V L thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển lành mạnh của con người cũng như của chính bị cáo
[4]. Bản thân bị cáo năm 2007 và năm 2011 bị Tòa án xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý gây thương tích”, nhưng chưa thực hiện đúng, đủ các nghĩa vụ phải thi hành theo Bản án đã tuyên, cụ thể: Chưa chấp hành xong phần án phí 50.000 đồng tại Bản án số 26/2007/HSST, ngày 18/4/2007 và khoản bồi thường cho người bị hại 2.500.000 đồng trong Bản án số 52/2011/HSST ngày 16/6/2011 (ngày 23/12/2022 mới nộp bồi thường là sau ngày phạm tội mới). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tình tiết định khung tăng nặng theo điểm o, khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Ngoài ra, về nhân thân bị cáo ngày 15/01/2003, bị can bị Chủ tịch UBND thị xã Đồng Xoài áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng về hành vi trộm cắp tài sản.
Tình tiết tăng nặng: không
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó khăn phải nuôi 02 con còn nhỏ nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho xã hội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân cần xét xử bị cáo V L một mức án nghiêm khắc.
[5]. Về đề nghị của người bào chữa cho bị cáo V L đối với việc thi hành các bản án đã tuyên trước đó:
-Bản án số 26/2007/HSST ngày 18/4/2007, tại biên bản xác minh ngày 06/3/2023 (bút lục số 76), Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Đồng Xoài đã xác nhận bị cáo chưa thi hành phần án phí 50.000đồng;
-Bản án số 52/2011/HSST ngày 16/6/2011, người bào chữa và ông N Th (là bị cáo trong Bản án số 52/2011/HSST) tại phiên tòa cho rằng gia đình ông Th đã thay mặt 04 bị cáo trong cùng vụ án, trong đó có V L, bồi thường toàn bộ số tiền 10.000.000 đồng cho ông Tr vào năm 2011, có viết giấy tay nhưng đã làm mất là không có cơ sở xem xét; theo giấy xác nhận kết quả thi hành án ngày 31/12/2020 đối với ông N Th do người bào chữa cung cấp thì trong đó xác nhận phần thi hành án của ông Th theo Bản án số 52/2011/HSST chỉ bồi thường cho ông Tr là 2.500.000đồng là phù hợp với Biên bản xác minh ngày 27/4/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Đồng Xoài là bị cáo V L có đơn yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành khoản tiền 2.500.000đồng để bồi thường cho bị hại Tr vào ngày 23/12/2022, sau ngày phạm tội mới (bút lục số 155).
Như vậy, không có cơ sở xác định bị cáo V L đã chấp hành xong các khoản án phí và bồi thường theo các bản án đã tuyên trước thời điểm phạm tội mới, nên việc xác minh đối với ông Tr tại Trại Giam Xuân Lộc theo đề nghị của người bào chữa là không cần thiết. Vì vậy, các yêu cầu của người bào chữa cho bị cáo V L không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài: Sau khi tranh luận đại diện Viện kiểm sát thống nhất áp dụng thêm khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, do đó Hội đồng xét xử áp dụng dưới mức đề nghị là phù hợp..
[7]. Đối với người tên Thương bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở xem xét.
Đối với V là vợ V L nhưng không biết việc V L tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không đặt vấn đề xử lý.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- 01 bì thư ký hiệu số 285M2 ngày 06/12/2022 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong; 01 nỏ thủy tinh; 01 hộp giấy; 01 bộ sử dụng ma túy đá tự chế (gồm 01 khay nhựa, 01 đoạn ống hút, 01 nỏ thủy tinh); 01 cân điện tử đã cũ; 01 hộp giấy màu xanh; 02 kéo bằng kim loại; 02 hộp quẹt ga; 01 đoạn ống hút hàn kín một đầu màu xanh. Đây là những công vụ, phương tiện sung vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại Vivo màu xanh tím đã cũ bị cáo V L sử dụng liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung quỹ.
[9]. Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: V L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm o, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự: Xử phạt V L 05 (năm) tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư ký hiệu số 285M2 ngày 06/12/2022 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong; 01 nỏ thủy tinh; 01 hộp giấy; 01 bộ sử dụng ma túy đá tự chế (gồm 01 khay nhựa, 01 đoạn ống hút, 01 nỏ thủy tinh); 01 cân điện tử đã cũ; 01 hộp giấy màu xanh; 02 kéo bằng kim loại; 02 hộp quẹt ga; 01 đoạn ống hút hàn kín một đầu màu xanh;
-Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại Vivo màu xanh tím đã cũ không lên nguồn
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002109 ngày 21/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước. - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP; - VKSND Thành phố Đồng Xoài; - Chi cục THADS Thành phố Đồng Xoài; - CA Thành phố Đồng Xoài; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Huệ |