vanban.org

Bản án 110/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phùng Thị Thúy L và Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phùng Thị Thúy L 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Thị Thúy L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phùng Thị Thúy L và Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/HS-ST
Ngày: 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Triển

2. Ông Phùng Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Tạ Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Phùng Thị Thúy L, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1983; Trú tại: Thôn 4, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Việt H, sinh năm 1947 và Nguyễn Thị S, sinh năm 1952; Chồng: Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 và có Con: có 04 con (lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không; Bị bị bắt tạm giữ từ ngày 03/4/2023 đến ngày 12/4/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại đến nay (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Văn T, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1968; Trú tại: Thôn 4, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Chu Thị C (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1970 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1993); Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 03/4/2023 đến ngày 12/4/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại đến nay (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân L làm nghề lao động tự do tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, quá trình làm việc và sinh sống tại địa phương, L thấy có nhiều người hỏi mua số lô, số đề trái phép. Do vậy, ngày 03/4/2023 L bắt đầu đứng ra nhận bán số lô, số đề trái phép cho khách để thu lời bất chính. L sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 354911091843086, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0868.925.786 để nhắn tin mua bán số lô trái phép với khách. Trưa ngày 03/4/2023, Nguyễn Văn T đến nhà L chơi, tại đây, T có nói với L là có ý định mua số lô, số đề trái phép nhưng chưa biết ai bán để mua, thì L nói với T là L có bán số lô, số đề. Sau đó L và T đã thống nhất hình thức chơi và tỷ lệ thắng thua như sau: Đối với số lô gồm 02 số tự nhiên từ 00 đến 99, mỗi điểm lô L bán cho T với giá 22.000 đồng. Nếu trúng tức là số lô này trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào của kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày thì L phải trả cho T số tiền 80.000 đồng/01 điểm lô. Trường hợp số lô T mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thì số tiền T thắng nhân lên theo số lần trùng nhưng không quá 03 lần. Ngược lại, nếu số lô T mua không trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào thì sẽ thua và L sẽ được hưởng số tiền T dùng để mua số lô đó.

Đối với số lô xiên ba là bộ số gồm 03 số lô khác nhau do T chọn. Nếu tất cả các số lô trong bộ số lô xiên ba T mua mà trùng với 02 số cuối của bất kỳ một giải thưởng nào (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì T sẽ thắng và được L trả thưởng số tiền gấp 40 lần lượng tiền T mua bộ số lô xiên ba đó. Ngược lại, nếu T thua (tức là có ít nhất 01 số lô trong bộ số lô xiên ba T mua không trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào) thì L sẽ được hưởng số tiền mà khách dùng để mua số lô đó.

Sau khi thỏa thuận cách thức chơi, tỷ lệ ăn thua như đã nêu trên thì L nói với T khi nào T mua số lô, số đề trái phép thì sẽ nhắn tin qua điện thoại bằng tin nhắn SMS cho L, khi nào tính tiền thắng thua thì T sẽ đến nhà L để thanh toán bằng tiền mặt. Đến 17 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8, màu đỏ, bên trong có gắn sim điện thoại mang số thuê bao 0366.379.029 nhắn tin đến số thuê bao số thuê bao 0868.925.786 được lắp trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen của L với nội dung: “00,55,mc=200điểm,10,62,04,76,mc=30,59,47,74,78,08,80,27,72,01,05,20,mc=15 điểm, 26,57,75,16,mc= 10 điểm xiên, 00,62,10,=200 ng, 55,62,10,= 200ng” có nghĩa là T bảo L bán cho các số lô: 00, 55 mỗi số với lượng 200 điểm; 10, 62, 04, 76 mỗi số với lượng 30 điểm; 59, 47, 74, 78, 08, 80, 27, 72, 01, 05, 20 mỗi số với lượng 15 điểm; 26, 57, 75, 16 mỗi số với lượng 10 điểm. Tổng số điểm lô L đã bán cho T là 725 điểm tương ứng với tổng số tiền là 15.950.000đ (Mỗi một điểm lô L bán cho T với giá 22.000đ); các số lô xiên ba gồm: 00-62-10, 55-62-10 mỗi bộ số với lượng 200.000đ. Tổng số tiền L bán các số lô xiên ba cho T là 400.000đ. Tổng số tiền L đã bán các số lô trái phép cho T trong ngày 03/4/2023 là 16.350.000đ. Sau đó, L nhắn tin trả lời lại cho T với nội dung “Ok” có nghĩa là L đồng ý nhận bán các số lô với lượng điểm, lượng tiền nêu trên cho T.

Đến khoảng 17 giờ 45 phút ngày 03/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của Phùng Thị Thúy L, sinh năm 1983, trú tại thôn 1, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đang có hoạt động đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái phép qua việc nhắn tin SMS. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường tiến hành làm việc với Phùng Thị Thúy L để xác minh thông tin nêu trên thì L thừa nhận L có hoạt động đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô trái phép với một số đối tượng qua việc nhắn tin SMS và nhắn tin qua ứng dụng mạng xã hội Zalo.

Do hành vi L bán các số lô trái phép cho T bị Công an huyện Vĩnh Tường phát hiện trước khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 03/4/2023 nên tổng số tiền đánh bạc của L với T trong ngày 03/4/2023 được xác định là 16.350.000đ (Số tiền này T chưa thanh toán cho L).

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ của L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 354911091843086, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000910142425(sim điện thoại trên mang số thuê bao 0868.925.786).

- Thu giữ của T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8, màu đỏ, có số IMEI: 352998098879090, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0379.446.678.

Ngày 09/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 202, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 354911091843086,bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000910142425 (sim điện thoại trên mang số thuê bao 0868.925.786) mà Cơ quan điều tra thu giữ được của Phùng Thị Thúy L với yêu cầu giám định: Khôi phục, trích xuất, in ra bản ảnh toàn bộ dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn messenger, tin nhắn zalo của tài khoản đăng nhập trên mẫu gửi giám định.

Ngày 26/4/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã có Bản kết luận giám định số 1115/KL-KTHS, theo đó kết luận:

Khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong mẫu gửi giám định, qua phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo yêu cầu giám định thấy có: 02 (hai) tin nhắn SMS, không có tin nhắn ứng dụng Zalo và ứng dụng Messenger. Toàn bộ dữ liệu trên được in trong phụ lục giám định kèm theo bản Kết luận giám định.

Kèm theo Kết luận giám định có: Một phụ lục gián định gồm 02 (hai) trang giấy A4.

Hoàn lại đối tượng gửi giám định có đặc điểm tả trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Vĩnh Tường tại Phòng Kỹ thuật hình sự.

Qua nghiên cứu nội dung Kết luận giám định trên xác định: Có 02 tin nhắn SMS có nội dung mua bán số lô trái phép giữa số điện thoại 0868.925.786 của Phùng Thị Thúy L trên điện thoại gửi giám định với số điện thoại 0366.379.029 của Nguyễn Văn T trong ngày 03/4/2023.

Ngày 09/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 201, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 352998098879090 bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 89840480004698175 (sim điện thoại trên mang số thuê bao 0379.446.678) mà Cơ quan điều tra thu giữ được của Nguyễn Văn T với yêu cầu giám định: Khôi phục, trích xuất, in ra bản ảnh toàn bộ dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn messenger, tin nhắn zalo của tài khoản đăng nhập trên mẫu gửi giám định.

Ngày 26/4/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã có Bản kết luận giám định số 1113/KL-KTHS, theo đó kết luận:

Khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định, qua phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo yêu cầu giám định không có tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo, Messenger.

Kèm theo Kết luận giám định có: Không

Hoàn lại đối tượng gửi giám định có đặc điểm tả trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Vĩnh Tường tại Phòng Kỹ thuật hình sự.

Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung các Bản kết luận giám định trên cho Phùng Thị Thúy L và Nguyễn Văn T thì cả hai bị can đều nhất trí với nội dung kết luận giám định và không có ý kiến thắc mắc gì.

Tại bản Cáo trạng số: 101/CT-VKS-VT ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo L và T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và trình bày ngày 03/4/2023 là lần đầu tiên L bán số lô trái phép, là lần đầu tiên T mua số lô trái phép của L, L không bán số lô, số đề cho ai khác. L tự giữ lại các số lô đã bán cho T để thanh toán thắng thua với T, không đứng ra làm trung gian (thư ký) chuyển số lô cho ai. T cũng thừa nhận bản thân có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô trái phép với L qua việc nhắn tin SMS

Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo L từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; bị cáo T từ 10 tháng đến 13 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 26 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, xử phạt mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000đồng để sung Ngân sách nhà nước.

Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

.Về nội dung: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 50 phút ngày 03/4/2023, do biết Phùng Thị Thúy L có bán số lô, số đề trái phép, Nguyễn Văn T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8, màu đỏ, bên trong lắp sim thuê bao 0366.379.029 nhắn tin đến số thuê bao 0868.925.786 được lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen của L để hỏi mua số lô trái phép. Qua tin nhắn, L đồng ý bán cho T các số lô: 00, 55 mỗi số với lượng 200 điểm; 10, 62, 04, 76 mỗi số với lượng 30 điểm; 59, 47, 74, 78, 08, 80, 27, 72, 01, 05, 20 mỗi số với lượng 15 điểm; 26, 57, 75, 16 mỗi số với lượng 10 điểm. Tổng số điểm lô L đã bán cho T là 725 điểm tương ứng với tổng số tiền là 15.950.000đ (Mỗi một điểm lô L bán cho T với giá 22.000đ); các số lô xiên ba gồm: 00-62-10, 55-62-10 mỗi bộ số với lượng 200.000đ. Tổng số tiền L bán các số lô xiên ba cho T là 400.000đ. Tổng số tiền L đã bán các số lô trái phép cho T trong ngày 03/4/2023 là 16.350.000đ. Do hành vi L bán các số lô trái phép cho T bị Công an huyện Vĩnh Tường phát hiện trước khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 03/4/2023 nên tổng số tiền đánh bạc của L với T trong ngày 03/4/2023 được xác định là 16.350.000đ (Số tiền này T chưa thanh toán cho L). Tang vật thu giữ gồm 02 chiếc điện thoại di động và 02 thẻ sim.

Với hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề thắng thua bằng tiền của các bị cáo, nhằm mục đích tư lợi như nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … , thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

. Xét về tính chất, mức độ hành vi thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do vậy, cần thiết phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người biết chấp hành pháp luật.

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy rằng:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không buộc các bị cáo phải chấp hành án tại cơ sở giam giữ mà cho các bị cáo được hưởng án treo ấn định thời gian thử thách theo pháp luật cũng đủ tác dụng, giáo dục và cải tạo các bị cáo trở thành người biết chấp hành pháp luật. Mức hình phạt Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Do vậy, phạt bị cáo L và T mỗi bị cáo 10.000.000đồng để sung Ngân sách nhà nước.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 354911091843086;01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000910142425, mang số thuê bao 0868.925.786 là tài sản hợp pháp của L, L sử dụng chiếc điện thoại và sim thuê bao trên nhắn tin bán các số lô cho T ngày 03/4/202 nên tịch thu sung phát mại công quỹ Nhà nước đối với điện thoại di động, tịch thu tiêu hủy đối với sim thuê bao trên.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8, màu đỏ, có số IMEI: 352998098879090 là tài sản hợp pháp của T, T sử dụng chiếc điện thoại trên nhắn tin mua các số lô với L ngày 03/4/2023 là vật chứng của vụ án, được bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung phát mại công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 89840488410004698175 (sim điện thoại trên mang số thuê bao 0379.446.678) được lắp trong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8, màu đỏ, có số IMEI: 352998098879090 của Nguyễn Văn T. T không được sử dụng để liên lạc mua số lô, số đề của L ngày 03/4/2023 nên trả lại cho T.

Đối với 01 thẻ sim điện thoại di động mang số thuê bao 0366.379.029 mà Nguyễn Văn T sử dụng để nhắn tin cho L hỏi mua các số lô ngày 03/04/2023. Quá trình điều tra, T khai nhận sau khi sử dụng thẻ sim điện thoại trên để mua số lô trái phép với L thì T tháo khỏi chiếc điện thoại và đã bị rơi mất thẻ sim điện thoại này nên Cơ quan điều tra chưa thu giữ được. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra thông báo truy tìm vật chứng đối với thẻ sim trên theo quy định, khi nào tìm thấy sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp.

Truy thu của Nguyễn Văn T số tiền 16.350.000đ là tiền T mua các số lô và lô xiên của L vào ngày 03/4/2023 nhưng T chưa trả cho L.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Phùng Thị Thúy L và Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phùng Thị Thúy L 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt tiền đối với mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Truy thu của Nguyễn Văn T số tiền 16.350.000đ .

Tịch thu, bán phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 354911091843086 của Phùng Thị Thúy L và 01 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8, màu đỏ, có số IMEI: 352998098879090.

Tịch thu, tiêu hủy 01 sim thuê bao 0868.925.786 của Phùng Thị Thúy L.

Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 89840488410004698175 (sim điện thoại trên mang số thuê bao 0379.446.678).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án./.

Cỡ chữ