- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T (Quỳnh) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Trả lại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 110/2023/HS-ST Ngày: 31-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Cao
Bà Dương Thị Sáu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Quốc T, tên gọi khác: Quỳnh sinh ngày 26/5/1986, tại Long An.
Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn L và bà Lê Thị H1; Bị cáo có vợ Lê Thị Phượng H2, có 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố tại ngoại điều tra. Có mặt;
- Bị hại: Dương Thị M (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Đặng Văn N1, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An. Xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Hà Thị Ngân Kim N2, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Số 30, đường số 53C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quốc T có giấy phép lái xe hạng E, thỏa thuận miệng với chị Hà Thị Ngân Kim N2 về việc điều khiển xe ô tô khách biển 50F-003.44 chở nhân viên Công ty Chingluh từ công viên Đầm Sen đến Công ty Chingluh ở Khu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An. Khoảng 7 giờ 45 ngày 10/7/2023, sau khi T điều khiển xe ô tô 50F-003.44 chở nhân viên đến Công ty Chinhlu thì phát hiện có một ghế ngồi bị hỏng nên gọi điện nói với chị N2 đi sửa lại ghế, thì chị N2 đồng ý. T điều khiển xe ô tô 50F-003.44 một mình đến tiệm hàn trên đường Nguyễn T cách cầu R khoảng 200m thì dừng xe sát lề phải, đầu xe hướng về Quốc lộ 1 (QL1), xuống xe vào tiệm hàn để hàn ghế nhưng không được nên T lên xe điều khiển đi. Do không chú ý quan sát phía trước đầu xe bên phải có bộ hành Dương Thị M đang đi bộ cặp lề phải cách đầu xe khoảng 10m, T điều khiển xe về phía trước thì phần phía trước bên phải đầu xe ô tô 50F-003.44 va chạm vào người bà M làm bà M té ngã trên đường trước nhà số 50 Nguyễn Trung Trực, Khu phố 8, thị trấn B, bánh xe trước và bánh xe sau bên phải xe ô tô 50F-003.44 lần lượt cán qua người bà M, dẫn đến bà M tử vong tại hiện trường.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 10/7/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B lập, thể hiện: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, chia làm hai chiều đường xe chạy bởi vạch sơn màu vàng không liên tục. Mặt đường rộng 12m chiều đường hướng C đi QL1A rộng 7m, chiều còn lại rộng 5m; Trên đường theo hướng C đi QL1A chọn trụ đèn số 03 phía làm điểm mốc và chọn mép đường bên phải làm mép đường chuẩn; Nạn nhân ký hiệu số (1) nằm nghiêng bên phải đầu hướng vào mép đường chuẩn, tâm đầu nạn nhân đo vào mép đường chuẩn là 1m40 giữa hai chân nạn nhân đo vào mép đường chuẩn là 2m40 và cách tâm trục bánh sau bên phải là 11m60; Xe ô tô khách 50F-003.44 ký hiệu số (2) đầu xe hướng về QL1 có tâm trục bánh trước bên phải đo vào mép đường chuẩn là 2m80, tâm trục vánh sau đo vào mép đường chuẩn là 2m80; Tâm trục bánh trước bên phải cách điểm mốc là 13m30.
Tại biên bản khám xe ô tô khách biển số 50F-003.44 ngày 10/7/2023 do Cơ quan điều tra lập thể hiện: Mặt ngoài bánh xe sau bên phải có dính vết màu đỏ kích thước 10x20cm và cách tâm trục bánh xe 45cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 142/KLGĐTT-TTPY ngày 01/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Long An, phần giám định: Đầu, mặt, cổ dập vỡ biến dạng phức tạp, thoát tổ chức não dập ra ngoài gần hết; Nhiều vết sây sát da và bầm ngực, bụng. Dập rách da vùng đường nách bên trái thám sát và khám ghi nhận gãy nhiều xương khung thành ngực; Sây sát rách da cổ chân phải và gãy trật khớp cổ chân phải. Kết luận: Nạn nhân Dương Thị M tử vong do chấn thương.
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn của Công an huyện B lập ngày 10/7/2023 tiến hành đo nồng độ cồn trong khí thở của Lê Quốc T ghi nhận nồng độ cồn là 0.00mg/1 khí thở.
Tại Kết luận giám định độc chất số 760/874/23/KL-GĐĐC-PYQG ngày 18/7/2023 của Phân viện pháp y quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận không tìm thấy Ethanol và Methanol trong mẫu máu của bà Dương Thị M. Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT có tạm giữ:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại bản Cáo trạng số 100/CT-VKSBL ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Xử phạt bị cáo Lê Quốc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 02 năm đến 03 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Ngoài ra không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Quốc T.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- 01 ô tô khách 50F.003-44 thuộc sở hữu của chị Hà Thị Ngân Kim N2, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả cho chị N2 xong không đề nghị xem xét.
- Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Lê Quốc T 01 giấy phép lái xe hạng E số 790130408008 có giá trị đến ngày 05/4/2027
- Về trách nhiệm dân sự: Lê Quốc T thỏa thuận bồi thường tiền chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với số tiền 150.000.000₫ cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Đặng Văn N1, ông N1 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Lời nói cuối cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Quốc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường, Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 142/KLGĐTT-TTPY ngày 01/8/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Long An và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 7 giờ 45 phút ngày 10/7/2023, bị cáo Lê Quốc T có giấy phép lái xe hạng E theo quy định điều khiển xe ô tô biển số 50F-003.44 một mình đến tiệm hàn ghế trên đường Nguyễn T thuộc khu phố 8, thị trấn B nhưng không hàn ghế được. Bị cáo lên xe điều khiển xe đi nhưng không chú ý quan sát phía trước bên lề phải cùng chiều có bà Dương Thị M đang đi bộ cách đầu xe khoảng 10m, phần phía trước bên phải đầu xe ô tô 50F-003.44 va chạm vào người bà M làm bà M té ngã trên đường, bánh xe trước và bánh xe sau bên phải lần lượt cán qua người bà M, dẫn đến bà M tử vong tại hiện trường.
Hành vi của bị cáo Lê Quốc T đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo các quy định về luật giao thông đường bộ. Thế nhưng trong lúc điều khiển xe ô tô, bị cáo đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, không chú ý quan sát phía trước bên lề phải cùng chiều có bà Dương Thị M đang đi bộ cách đầu xe khoảng 10m, phần phía trước bên phải đầu xe ô tô 50F-003.44 va chạm vào người bà M làm bà M té ngã trên đường, bánh xe trước và bánh xe sau bên phải lần lượt cán qua người bà M, dẫn đến bà M tử vong tại hiện trường mà còn ảnh hưởng đến an toàn, trật tự công cộng.
Hành vi của bị cáo Lê Quốc T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi của bị cáo Lê Quốc T cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp tương xứng mức độ hành vi mà bị cáo gây ra mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Quốc T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Bị cáo T có hoàn cảnh gia dình khó khăn là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận. Ngoài ra có bà nội được Nhà nước phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Lê Quốc T còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, xét thấy hành vi vi phạm tội của bị cáo không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Quốc T
. Xét thấy bị cáo Lê Quốc T có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; do đó việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Lê Quốc T là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- 01 ô tô khách 50F.003-44 thuộc sở hữu của chị Hà Thị Ngân Kim N2, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả cho chị N2 xong không đề cập xem xét.
- Trả lại cho bị cáo Lê Quốc T 01 giấy phép lái xe hạng E số 790130408008 có giá trị đến ngày 05/4/2027
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Quốc T thỏa thuận bồi thường tiền chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với số tiền 150.000.000₫ cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Đặng Văn N1, ông N1 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T (Quỳnh) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc T (Quỳnh) 01(một) năm 06(sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03(ba) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Quốc T về Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Quốc T có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Lê Quốc T thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Trả lại cho bị cáo Lê Quốc T 01 giấy phép lái xe hạng E số 790130408008 có giá trị đến ngày 05/4/2027
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2023).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Quốc T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện B; - Sở Tư pháp Long An; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện B; - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện B; - Bị cáo; đại diện hợp pháp bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |