vanban.org

Bản án 110/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Xuân Đ không phải chịu án phí h…

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM XUÂN ĐẠO - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Xuân Đ không phải chịu án phí h…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/HS-PT
Ngày 06-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hà và ông Lưu Văn Tỉnh

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo kháng cáo: Phạm Xuân Đ, sinh năm 2001 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Hòa Nhuệ, xã Tiên Động, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Huyền (đã chết) và bà Phạm Thị Kiều; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 27/01/2023 đến ngày 01/02/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Đàm Xuân B, vắng mặt;

- Anh Nguyễn Hải Đ, vắng mặt;

- Ông Trần Minh H, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 26/01/2023, Phạm Xuân Đ đi xe khách từ Hải Dương đến bến xe Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng với dự định sẽ tìm việc làm tại Hải Phòng, khi đi Đ có cầm theo 01 túi nilon kích thước 7x11cm đựng 08 viên ma tuý tổng hợp để ở túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc mục đích để Đ sử dụng cá nhân. Trước đó, Đ gọi điện thoại cho Đàm Xuân B và Nguyễn Hải Đ (đều là bạn xã hội của Đ) hẹn B, Đ đón Đ khi Đ đến Hải Phòng. B bận việc nên hẹn sẽ đón Đ lúc 22 giờ cùng ngày. Sau khi đến Hải Phòng, Đ đi xe taxi đến một quán nước vỉa hè đường Bùi Viện thuộc phường Thành Tô, quận Hải An ngồi chơi nói chuyện với Đ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ có việc cần xe để đi nên Đ vào nhà anh Phạm Tiến Khang (bạn xã hội của Đ) mượn chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BKS: 15B4-073.42 đưa cho Đ đi, còn Đ vẫn ngồi tại quán nước vỉa hè đường Bùi Viện. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ quay lại quán nước ngồi chơi với Đ. Lúc này, B điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MERCEDES BKS: 15A-251.89 đỗ tại khu vực trước cửa nhà số 776 Ngô Gia Tự, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng đợi đón Đ. B gọi điện thông báo vị trí đợi cho Đ thì Đ nhờ Đ điều khiển xe máy chở Đ đến chỗ B. Khi đến nơi, Đ xuống xe máy đi đến xe ô tô của B mở cửa xe và ngồi vào ghế phụ phía trước còn Đ đỗ xe máy đứng ở ngoài. Khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, khi Đ đang nói chuyện với B trên xe thì bị Tổ tuần tra của Công an quận Hải An tiến hành kiểm tra người và ô tô, xe máy. Đ dùng tay lấy túi ma tuý đang để ở trong túi áo khoác bên phải của Đ vất xuống sàn xe vị trí Đ đang ngồi. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ tại vị trí sàn xe phía trước bên phụ 01 túi nilon kích thước 7x11cm bên trong chứa 08 viên nén màu vàng hình bầu dục có dập nổi kí tự chữ Dior (Đ khai nhận đó là số ma tuý Đ vừa vất xuống). Tổ công tác đã đưa Đ, Đ, B về trụ sở Công an phường Thành Tô, quận Hải An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, ngoài ra thu giữ, tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, bên trong có chứa 01 thẻ sim số thuê bao 0858846567 của Phạm Xuân Đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Promax lắp sim số 0772236939 của Đàm Xuân B; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 lắp sim số 0867158559 của Nguyễn Hải Đ; 01 xe máy nhãn hiệu HONDA BKS: 15B4-073.42 và 01 xe ô tô nhãn hiệu MERCEDES BKS: 15A-251.89.

Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu: Mẫu nước tiểu của Phạm Xuân Đ dương tính với test thử chất ma túy MDMA, Ketamine và Cần sa; Mẫu nước tiểu của Nguyễn Hải Đ dương tính với test thử chất ma túy Cần sa; Mẫu nước tiểu của Đàm Xuân B âm tính với test thử chất các chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 157/KL-KTHS(MT) ngày 30/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 8 viên nén màu vàng nhạt thu giữ của Phạm Xuân Đ “là ma túy, có khối lượng 3,32 gam, là loại MDMA”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân Đ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/01/2023.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Xuân Đ kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt do bản án sơ thẩm xét xử bị cáo quá nặng so với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng tội danh, hành vi phạm tội của bị cáo; hình phạt do Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đã tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị cáo giao nộp một số tài liệu, chứng cứ mới thể hiện gia đình bị cáo là gia đình chính sách, nhiều năm có công thờ cũng liệt sỹ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Những nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 26/01/2023, Phạm Xuân Đ có hành vi tàng trữ trái phép 3,32 gam MDMA với mục đích sử dụng cho bản thân bị bắt quả tang khi đang ngồi trong xe ô tô MECERDES BKS 15A-251.89 đỗ tại khu vực trước cửa nhà số 776 Ngô Gia Tự, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân quận Hải An xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Xét kháng cáo của bị cáo:

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật Hình sự là “bị cáo thành khẩn khai báo” và xử phạt bị cáo 36 tháng tù là thỏa đáng, không nặng.

Tại giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị cáo nộp bổ sung một số tài liệu thể hiện: Gia đình bị cáo là gia đình chính sách, nhiều năm có công thờ cúng liệt sỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, xét gia đình bị cáo là gia đình chính sách, nhiều năm có công thờ cúng liệt sỹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải An; giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/01/2023.

3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Xuân Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ