- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim L
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2023/HNGĐ - ST Ngày 22 tháng 9 năm 2023 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bắc
2. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 385/2023/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2023/QĐST - HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1989
Địa chỉ: Hẻm 39 đường T, phường IK, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt
Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến M, sinh năm 1982
Địa chỉ: Số 118 đường T, tổ 01, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 5 năm 2023, bản tự khai ngày 26 tháng 5 năm 2023 cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L trình bày như sau:
Chị và anh Nguyễn Tiến M tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 22 tháng 01 năm 2018. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh M không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên uống rượu về nhà kiếm cớ gây chuyện cãi nhau, đA và đuổi chị ra khỏi nhà. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đến năm 2019 chị quyết định ly thân và thuê nhà trọ sinh sống, Chị không thể tiếp tục chung sống với anh M nên yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố P giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến M.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Tiến M có 01 (một) con chung Nguyễn Kim Ngọc A, sinh ngày 02 tháng 12 năm 2017. Cháu hiện đang ở với anh Nguyễn Tiến M. Chị đồng ý giao cháu Nguyễn Kim Ngọc A cho anh M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, chị thay đổi yêu cầu khởi kiện về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, chị yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Kim Ngọc A và không yêu cầu anh Nguyễn Tiến M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Nguyễn Tiến M không có tài sản chung và không có nghĩa vụ chung phải thực hiện nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Tiến M:
Anh Nguyễn Tiến M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để anh M trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung của chị Nguyễn Thị Kim L nhưng anh M không đến Tòa án làm việc. Vì vậy Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo luật định để xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có ý kiến như sau:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như trình tự phiên tòa. Đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Đối với bị đơn anh Nguyễn Tiến M, việc chấp hành theo pháp luật tố tụng còn hạn chế. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung yêu cầu khởi kiện thay đổi về con chung của chị Nguyễn Thị Kim L.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim L về yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tiến M, giao 01 (một) con chung là Nguyễn Kim Ngọc A, sinh ngày 02 tháng 12 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Tiến M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không thuộc trường hợp cấm kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 22 tháng 01 năm 2018. Hôn nhân của anh chị tuân thủ theo các Điều 8, 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên hôn nhân hợp pháp.
Do mâu thuẫn gia đình, chị L yêu cầu giải quyết ly hôn với anh M đồng thời giải quyết về vấn đề con chung, bị đơn anh M cư trú tại trên địa bàn thành phố P nên thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân thành phố P theo loại việc, theo lãnh thổ và theo cấp xét xử.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn anh M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để anh trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị L, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải đoàn tụ, hòa giải về hôn nhân, con chung và các vấn đề khác cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh M vắng mặt. Do đó căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim L thay đổi yêu cầu khởi kiện về con chung, cụ thể chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Kim Ngọc A, không yêu cầu anh Nguyễn Tiến M cấp dưỡng nuôi con. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận căn cứ theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 11 tháng 7 năm 2023, Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Tiến M cư trú nhưng không xác định được mâu thuẫn vợ chồng.
Tuy nhiên trên thực tế anh M và chị L không cùng chung sống phù hợp với lời khai của chị L về việc chị và anh M đã sống ly thân từ năm 2019. Như vậy, giữa chị L và anh M đã phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải làm rạn nứt tình cảm vợ chồng, tổn thương sâu sắc lòng tự trọng của cả hai bên dẫn đến anh chị không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân
Từ đó có cơ sở khẳng định hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Tiến M phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim L, xử cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Tiến M.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Tiến M có 01 (một) con chung là Nguyễn Kim Ngọc A, sinh ngày 02 tháng 12 năm 2017.
Mặc dù cháu Nguyễn Kim Ngọc A hiện đang sống với anh Nguyễn Tiến M nhưng anh M không trực tiếp nuôi dưỡng mà giao cháu cho gia đình bên nội; theo chị L, cả chị và anh M hiện tại không ai có nghề nghiệp và thu nhập nhưng bản thân chị đã học nghề, tương lai cuộc sống sẽ có thu nhập đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Kim Ngọc A; bản thân anh Nguyễn Tiến M không có ý kiến gì đối với con chung. Trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích của cháu A, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu A cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Nguyễn Thị Kim L không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong cùng vụ án này.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 97, Điều 227, Điều 244, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 8, 9, 51, 53, 54, 55, 57, 81, 82, 83, 84 và 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 146, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim L
Chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Tiến M
2. Về con chung:
Giao 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Kim Ngọc A, sinh ngày 02 tháng 12 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo biên lai số 0000358 ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Chị Nguyễn Thị Kim L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L được quyền làm đơn kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bị đơn anh Nguyễn Tiến M vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát thành phố P; - Chi cục thi hành án dân sự thành phố P; - Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Ủy ban nhân dân phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Chứng nhận kết hôn số 13 ngày 22/01/2018); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Võ Thị Thanh Thúy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |