vanban.org

Bản án 110/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 11/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Trọng Th.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Trúc H, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2019 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Buộc bà Trần Thị Th1 (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Trọng Th hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H) giao cháu Nguyễn Hoàng Trúc H, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2019 cho ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Trọng Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11- 5 - 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Mai Khanh

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nH dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nH dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nH gia đình thụ lý số 258/2022/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 74/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 228/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/4/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh ngày 09/12/2001; chỗ ở hiện nay: Thôn Tân Minh, xã QL, thị xã HM, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng Th, sinh ngày 10/9/1993; Nơi ĐKHKTT: Thôn Tân Minh, xã QL, thị xã HM, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Đài Loan; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Th1, địa chỉ: xóm Tân Minh, xã QL, thị xã HM, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Trọng Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/3/2021 tại Ủy ban nH dân xã QL, thị xã HM, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống của hai người không hợp nhau. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột; quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng và không thể ở cùng với nhau. Vợ chồng ly thân từ tháng 7/2021. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Trọng Th.

Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Trọng Th có một con chung là Nguyễn Hoàng Trúc H, sinh ngày 26/12/2019. Tại đơn xin ly hôn ngày 17/10/2022, chị T đề nghị Toà án giao con chung cho anh Th chăm sóc nuôi dưỡng, nhưng tại Bản tự khai ngày 06/02/2023, chị T thay đổi yêu cầu và đề nghị Toà án giao con chung cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Trọng Th: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Trọng Th vắng mặt. Chị Hoàng Thị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh Th cư trú, chị chỉ biết anh Th đang ở Đài Loan. Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, đồng thời gửi Thông báo thụ lý vụ án cho anh Th thông qua bà Trần Thị Th1 (là mẹ đẻ của anh Th), tiến hành xác minh, lấy lời khai, gửi văn bản yêu cầu bà Trần Thị Th1 cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn. Bà Trần Thị Th1 khai rằng: anh Th thường xuyên liên lạc với bà nhưng không cho bà biết địa chỉ cụ thể của anh ở Đài Loan. Anh Th đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T với anh. Theo bà Th1 thì anh Th đồng ý ly hôn chị T. Đến nay, Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào của anh Th thể hiện ý kiến liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Th1: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Trọng Th; anh Th hiện đang ở Đài Loan. Anh Th thường xuyên liên lạc về với bà nhưng không cho bà biết địa chỉ cụ thể của anh ở nước ngoài. Anh Th đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T với anh. Bà chăm sóc, nuôi dưỡng con anh Th chị T là cháu Nguyễn Hoàng Trúc H từ tháng 8/2022 đến nay, chi phí do anh Th gửi về cho bà. Chồng bà Th1 là ông Nguyễn Văn Thế đang ở nước ngoài từ năm 2018 đến nay chưa về nước. Nếu anh Th và chị T ly hôn, bà không yêu cầu anh Th chị T trả tiền công chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng tại phiên tòa.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Trọng Th đã được bố đẻ của mình cung cấp các thông tin về việc chị Hoàng Thị T xin ly hôn, nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Chị Hoàng Thị T và bà Trần Thị Th1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo khoản 1 Điều 228, vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định.

Về nội dung: Xét thấy chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Trọng Th có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nH dân xã QL, thị xã HM, tỉnh Nghệ An vào năm 2020, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nH là hợp pháp. Vợ chồng ly thân từ tháng 7/2021. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Trọng Th. Về con chung: Đề nghị giao hai con chung là Nguyễn Hoàng Trúc H cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Nguyễn Trọng Th không phải đóng góp phí tổn nuôi con do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xem xét; chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Trọng Th có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn chị Hoàng Thị T và bị đơn anh Nguyễn Trọng Th; trong đó chị T, anh Th đều có hộ khẩu thường trú tại thôn Tân Minh, xã QL, thị xã HM, tỉnh Nghệ An; bị đơn anh Nguyễn Trọng Th đã xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay Nội Bài lần cuối là ngày 16/03/2020 đến nay chưa nhập cảnh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Trọng Th vắng mặt, Tòa án đã tiến hành xác minh lấy lời khai của bà Trần Thị Th1 (là mẹ đẻ của anh Th, địa chỉ: thôn Tân Minh, xã QL, thị xã HM, tỉnh Nghệ An) yêu cầu bà Th1 cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho Th biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa chị T và anh Th. Tuy nhiên, bà Trần Thị Th1 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh Th do anh Th không cho bà biết; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh Th liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của anh Th trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Hoàng Thị T và bà Trần Thị Th1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo khoản 1 Điều 228, vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

3.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Trọng Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 09/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã QL, thị xã HM, tỉnh NghệAn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống của hai người không hợp nhau. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột; quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng và không thể ở cùng với nhau. Vợ chồng ly thân từ tháng 7/2021. Đến nay, chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh Th nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Trọng Th theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

3.2. Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Trọng Th có một con chung là Nguyễn Hoàng Trúc H, sinh ngày 26/12/2019. Hiện nay, cháu đang sống cùng mẹ đẻ anh Th là bà Trần Thị Th1. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không yêu cầu anh Th đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Xét nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là nguyện vọng chính đáng của người làm mẹ. Hiện nay chị T đang sống tại Việt Nam, cháu H đang còn nhỏ nên cần thiết phải có sự chăm sóc của người mẹ. Anh Th đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các con cần giao con chung Nguyễn Hoàng Trúc H cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do cháu H hiện đang ở cùng với bà nội của cháu là bà Trần Thị Th1 nên cần buộc bà Th1 giao cháu H cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Hoàng Trúc H từ trước đến nay, bà Trần Thị Th1 không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T và anh Th có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

Về án phí sơ thẩm: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí hôn nH và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nH và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Trọng Th.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Trúc H, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2019 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Buộc bà Trần Thị Th1 (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Trọng Th hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H) giao cháu Nguyễn Hoàng Trúc H, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2019 cho chị Hoàng Thị T theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Trọng Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Trọng Th có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp (do ông Phạm Thế Huy nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012234 ngày 19/10/2022.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ