vanban.org

Bản án 110/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị T.

Chị Phan Thị T được ly hôn với anh Huỳnh Văn C. Về con chung: Anh C trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Chí T1, sinh ngày 23/7/2007, cháu T1 hiện đang sống với chị T, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh C không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị T - Huỳnh Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 110/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29- 8 -2023
V/v Ly hôn, t/c về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Vui

2. Bà Đỗ Thị Thúy Diễm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: Ông Nguyễn Hoàng Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 149/2023/TLST-HN ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/QĐST – HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1979

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1977;

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre

Chị T có yêu cầu giải quyết vắng mặt; anh C vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày:

Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh C. Chị và anh C do quen biết tiến đến hôn nhân, có làm đám cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2005 được UBND xã T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 12/12/2005. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải được, anh C hay uống rượu xay xỉn về đánh đập chị, bạo lực gia đình, không lo kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con nên vợ chồng hay cãi nhau, không còn yêu thương lo lắng, chăm sóc nhau. Vợ chồng ly thân cách nay khoảng 04 năm. Chị và anh C đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay, chị và gia đình khuyên anh C thay đổi nhưng anh không thay đổi.

Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh C. Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng giữa vợ chồng cho chị, chị cũng không cấp dưỡng cho anh C.

- Về con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Chí T1, sinh ngày 23/7/2007, con theo ai người đó nuôi, người còn lại không cấp dưỡng nuôi con. Con chung hiện nay đang sống với chị và gia đình chị.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung; Không có.

Bị đơn anh Huỳnh Văn C vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự trong quá trình thụ lý và giải quyết nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình vắng mặt trong các lần tòa mời.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Phan Thị T, chị T được ly hôn với anh C; Con chung tên Huỳnh Chí T1, sinh ngày 23/7/2007, anh C trực tiếp nuôi, chị T không cấp dưỡng nuôi con do anh C không yêu cầu; Tài sản chung: Chị T trình bày tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án cần giải quyết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền giải quyết: Theo xác nhận của Công an xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre xác nhận anh Huỳnh Văn C hiện có đăng ký thường trú tại xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Chị Phan Thị T có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T là phù hợp.

Anh Huỳnh Văn C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh C là phù hợp.

Về hôn nhân: : Chị Phan Thị T và anh Huỳnh Văn C kết hôn vào năm 2018, trên cơ sở quen biết và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, chị T cho cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải được, anh C hay uống rượu xay xỉn về đánh đập chị, bạo lực gia đình, không lo kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con nên vợ chồng hay cãi nhau, không còn yêu thương lo lắng, chăm sóc nhau. Vợ chồng ly thân cách nay khoảng 04 năm. Chị và anh C đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay, chị và gia đình khuyên anh C thay đổi nhưng anh không thay đổi. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh C. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh C. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mất hạnh phúc giữa chị T và anh C thì chính quyền địa phương cho biết chị T và anh C mất hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Gia đình của chị T cho rằng, giữa chị T và anh C có mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng, chị T và anh C sống ly thân đã lâu, cách nay mấy năm. Như vậy, giữa chị T và anh C mâu thuẫn là có thật. Anh C đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến để tham gia hòa giải, xét xử nhưng vẵn vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến gì về việc chị T xin ly hôn, chứng tỏ anh C không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Anh chị là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng, thấy rằng mâu thuẫn giữa chị T và anh C đã trầm trọng, muïc ñích hoân nhaân giöõa hai anh chò khoâng ñaït ñöôïc ñôøi soáng chung khoâng theå keùo daøi neân chaáp nhaän yeâu caàu của chị T là phù hợp.

Về con chung: Chị T và anh C có 01 con chung tên Huỳnh Chí T1, sinh ngày 23/7/2007, chị T yêu cầu con theo ai người đó nuôi, người còn lại không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, Cháu T1 hiện nay đã trên 07 tuổi, qua lấy ý kiến của cháu thì cháu có nguyện vọng sống với cha là anh C, anh C cũng có điều kiện nuôi dạy cháu nên Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho anh C nuôi là phù hợp, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh C không yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị T trình bày không có nên không xem xét.

Án phí ly hôn: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo qui định là 300.000 đồng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị T.

Chị Phan Thị T được ly hôn với anh Huỳnh Văn C.

2. Về con chung: Anh C trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Chí T1, sinh ngày 23/7/2007, cháu T1 hiện đang sống với chị T, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh C không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84, điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình , Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị T trình bày không có nên không xem xét.

5. Án phí: Chị Phan Thị T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005222 ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ