vanban.org

Bản án 110/2023/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 11/09/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa một phần bản án sơ thẩm

Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về chia di sản thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Văn Chiêu, cụ L ng Th T ờng. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện Xuân Tr ờng đã cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn T - Nguyễn Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Sửa một phần bản án sơ thẩm
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 170 Luật Đất đai
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/DS-PT
Ngày 11-9-2023
V/v tranh chấp chia di sản thừa kế.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành ph n H i ồng t ph c th m gồm c

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hà Nam

Các Thẩm phán:

Ông Lại Văn Tùng

Ông Nguyễn Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Giang - Th ký Tòa án nhân dân t nh Nam Đ nh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở, Toà án nhân dân t nh Nam Đ nh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 13/2023/TLPT-DS ngày 23 tháng 03 năm 2023 về việc tranh chấp chia di sản thừa kế.

Do bản án dân sự s thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh b kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 190/2023/QĐXXPT-DS ngày 21 tháng 8 năm 2023 gi a các đ ng sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1948; đ a ch : Số 52C, ngõ 52, LKT, ph ờng TM, quận HM, Thành phố Hà Nội; “có mặt”;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1955; đ a ch : Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh; “có mặt”;

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn Q là: Luật s Trần Nam N và luật s Trần Tuấn C - Công ty luật FLA, Đoàn luật s thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hoàng Th M, sinh năm 1957; đ a ch : Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh; “có mặt”;

+ Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1931; đ a ch : Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh; “vắng mặt”;

+ Bà Nguyễn Th Đ, sinh năm 1937; đ a ch : Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh; “vắng mặt”;

+ Bà Nguyễn Th H, sinh năm 1940; đ a ch : Số nhà 13, đ ờng Vòng Lâm Viên, ph ờng 9, Chi Lăng, thành phố Đà Lạt, t nh Lâm Đồng; “vắng mặt”;

+ Bà Nguyễn Th Th, sinh năm 1954, đ a ch : Phòng 217 A4 tập thể công cụ số 1, ph ờng Th ợng Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; “vắng mặt”;

+ Bà Phan Th H1, sinh năm 1934; đ a ch : Tổ 3, ph ờng Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, t nh Thái Nguyên; “vắng mặt”;

+ Bà Nguyễn Th Kim Ng, sinh năm 1960; đ a ch : Số nhà 130, Tổ 2, ph ờng Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên, t nh Thái Nguyên; “vắng mặt”;

+ Bà Nguyễn Th Tâm D, sinh năm 1962, đ a ch : Tổ 12, ph ờng Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, t nh Thái Nguyên; “vắng mặt”;

+ Ông Nguyễn Đức Tr, sinh năm 1965; đ a ch : Tổ 3, ph ờng Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, t nh Thái Nguyên; “vắng mặt”;

+ Ông Nguyễn Đức S, sinh năm 1968; đ a ch : Tổ 3, ph ờng Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, t nh Thái Nguyên; “vắng mặt”;

+ Ông Hoàng Văn Nh, sinh năm 1940; đ a ch : Số 10, khu Chiến Thắng, th trấn Xuân Mai, huyện Ch ng Mỹ, Thành phố Hà Nội; “vắng mặt”;

+ Ông Hoàng Minh Th2, sinh năm 1969; đ a ch : Xóm 17, xã Xuân Vinh, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh; “vắng mặt”;

+ Anh Hoàng Đức Th3, sinh năm 1973; đ a ch : Số nhà 432, đ ờng Nguyễn Trãi, ph ờng Th ợng Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; “vắng mặt”;

+ Anh Hoàng Trung Th4, sinh năm 1975; đ a ch : Số 10, tổ 1, khu Chiến Thắng, th trấn Xuân Mai, huyện Ch ng Mỹ, Thành phố Hà Nội; “vắng mặt”;

+ Ch Hoàng Thu Th5, sinh năm 1977; đ a ch : Tổ 1, khu Chiến Thắng, th trấn Xuân Mai, huyện Ch ng Mỹ, Thành phố Hà Nội; “vắng mặt”;

Ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Thị H đều ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1948; địa chỉ: Số 52C, ngõ 52, LKT, phường TM, quận HM, Thành phố Hà Nội tham gia tố tụng.

Bà Đan, bà Thuỷ, bà Hoa, bà Nguyệt, bà Dung, ông Trường, ông Sơn, ông Nhưng, anh Thiện, anh Thịnh, anh Thông, chị Thảo uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1955; địa chỉ: Xóm 5, xã XT, huyện XT, tỉnh Nam Định tham gia tố tụng.

- Người làm chứng:

1. Ông L ng Viết Trợ, sinh năm 1930, đ a ch : Xóm 2, xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh; “vắng mặt”;

2. Ông Vũ Mạnh Linh, sinh năm 1965, đ a ch : Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Bố mẹ của ông là cụ ông Nguyễn Văn Chiêu, chết năm 1991, cụ bà L ng Th T ờng (tên gọi theo chồng là Nguyễn Th Chiêu), chết năm 2007. Cụ Chiêu và cụ T ờng có 07 ng ời con đẻ gồm: Ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Th Đ, bà Nguyễn Th H, bà Nguyễn Th Ích (bà Ích chết năm 2009, bà Ích có chồng là ông Hoàng Văn Nh và 4 ng ời con gồm: Hoàng Minh Th2, Hoàng Đức Th3, Hoàng Trung Th4, Hoàng Thu Th5), ông là Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Th Th và ông Nguyễn Văn Q. Tr ớc khi ông Chiêu lấy bà L ng Th T ờng, thì cụ Chiêu có vợ là cụ My có 01 ng ời con đẻ là ông Nguyễn Đức Hạnh, sinh năm năm 1931 (ông Hạnh chết ngày 14/11/2009, ông Hạnh có vợ là bà Phan Th H1 và có 4 ng ời con gồm: Nguyễn Th Nguyệt, Nguyễn Th Tâm D, Nguyễn Đức Tr, Nguyễn Đức S).

Cụ Chiêu, cụ T ờng có mảnh đất ở 09 miếng tại xóm 6a, xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh, sau đó thay đổi đ a giới hành chính nay thuộc xóm 5, xã Xuân Tiến. Trên đất có một nhà gỗ cấp 4 năm gian lợp bổi. Ngoài nhà đất này, bố mẹ ông không còn nhà đất, tài sản nào khác. Khi vợ chồng ông Quang ở cùng với bố mẹ là hai cụ Chiêu, vợ chồng ông Quang đã phá nhà gỗ của bố mẹ và làm lại nhà mái bằng 03 gian cho bố mẹ cũng nh vợ chồng con cái ông Quang ở (cụ thể thời gian ông Quang làm nhà ông không nhớ). Khoảng gần 10 năm nay vợ chồng ông Quang lại phá nhà mái bằng 03 gian để xây nhà 2 tầng, tr ớc khi làm nhà ông Quang có lên Hà Nội gặp vợ chồng ông và nói “Chuẩn b em làm nhà, mặt đ ờng em làm một nửa còn sau này anh về anh làm” vợ chồng ông đồng ý không có ý kiến gì, khi vợ chồng ông Quang làm nhà ông có về xem xét việc ông Quang làm nhà. Ngày 08/12/1986, bố ông bảo ông viết văn bản phân chia nhà đất của bố mẹ cho các con thay cho bố ông với nội dung: “Bố Nguyễn Văn Chiêu, mẹ Lương Thị Tường; Quê quán: Xóm 6a, Xuân Tiến, Xuân Thủy, Hà Nam Ninh, hiện có những bất động sản sau: đất 09 miếng (có văn tự mua kèm theo), trên mảnh đất đó có một ngôi nhà gỗ 05 gian, 02 gian nhà bếp xây và 01 gian nhà xí lợp rạ. Nay tuổi già sức yếu, tôi đem chia cho các con. Căn cứ vào nhu cầu thực tế của các con chưa có nhà ở. Vào thực tại đất đai đem chia còn quá hẹp. Các con trưởng trước đây đã được chia một phần nay đã có thổ riêng. Sau khi họp bàn với các con trên tinh thần anh em nhường nhịn nhau, tôi chia như sau: Ngôi nhà bếp xây 02 gian giữ lại cho bố mẹ. Ngôi nhà gỗ 05 gian dỡ đem bán, số tiền bán được giữ lại cho bố mẹ dưỡng già. Còn đất chia làm hai phần bằng nhau cho hai con là Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn Q theo ranh giới vạch đôi (có sơ đồ chỉ dẫn). Việc sử dụng đất đai mỗi người một nửa do hai con bàn bạc với nhau cho hợp tình hợp lý”. Tr ớc đó, bố mẹ ông bàn về việc chia đất nh trên thì có bố mẹ, ông Chiểu, ông và ông Quang. Còn ngày viết văn bản ngày 08/12/1986 thì ông không nhớ chính xác lúc đó có nh ng ai, ch ký Chiêu là bố ông trực tiếp ký sau khi ông viết xong. Trong văn bản không có ch ký của mẹ vì giấy văn tự mua đất của bố ông tr ớc kia ghi diện tích 09 miếng ch đứng tên bố không có tên mẹ nên bố không đ a mẹ ký, văn bản này ông Quang cũng đ ợc gi một bản (do bố ông đ a cho ông Quang). Ông Chiểu cũng ký ngay thời điểm khi ông viết xong, ông Chiểu viết số đất này cho 2 em Tiến, Quang, ông Chiểu không nhận và ký tên con tr ởng Nguyễn Văn Ch. Sau đó ông mới đ a văn bản này cho em gái là Nguyễn Th Th ký vào, còn bà Đan ông đ a tr ớc thời điểm bà Thủy ký, thời gian cụ thể bà Thủy, bà Đan ký đến nay ông không nhớ. Năm 2018 văn bản này đ ợc ông Chiểu công bố tr ớc gia đình hầu hết đủ các anh em trong gia đình, ông nhớ vắng bà Hồng do ở xa, không ai có ý kiến gì. Nh ng ng ời khác ông không đ a cho ký vì ông nghĩ đất này mang tên bố nên bố đ ợc toàn quyền quyết đ nh vì vậy nh ng ng ời khác không bắt buộc phải ký.

Ngày 12/7/2006 ông Quang có viết giấy chia quyền thừa kế sử dụng đất, văn bản này tr ớc đây ông không nộp vì ông biết chắc chắn ông Quang sẽ nộp Tòa án và ông muốn để ông Quang nộp xem thế nào, tài liệu ông Quang nộp ông thấy nội dung của tờ giấy đôi gồm có 04 trang trong đó trang thứ nhất và trang thứ hai ghi với nội dung “Tôi là Nguyễn Thị Chiêu đang ở đội 5, xã Xuân Tiến, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định hiện sở hữu mảnh đất thuộc thửa số 153, tờ bản đồ số 4, địa chính xã Xuân Tiến có diện tích đất 340m2 trong đó có ngôi nhà 3 gian mái bằng do vợ chồng con trai Nguyễn Văn Q làm từ năm 1987 ở cùng tôi đến nay, sau khi đã bàn bạc thống nhất với các con trai là Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Q, tôi chia quyền sử dụng mảnh đất này ra làm các phần sau:

1. Để lại 50m2 tính từ ranh giới giáp ngõ phía Tây trở lại phía Đông để xây nhà thờ tổ;

2. Phần còn lại 290m2 chia làm 04 phần có diện tích bằng nhau (72m2) . Ranh giới giữa các phần đất này theo trục đường xã, thứ tự tính từ phía Bắc xuống phía Nam. Phần thứ nhất là của tôi, phần thứ hai là của vợ chồng Nguyễn Văn Q, phần thứ ba của vợ chồng Nguyễn Đức Hạnh, phần thứ tư của vợ chồng Nguyễn Văn T. Riêng đất ở của vợ chồng con trai Nguyễn Văn Ch trước kia đã được chia đất sau đó do xã làm đường vào khu vực đó nên đã được đền bù đất và làm nhà ở chỗ khác.

Quyền sử dụng đất của các thành phần được chia như trên sẽ được thực hiện tính từ ngày ký và có thể chuyển nhượng cho nhau.

Hiện tại tôi, vợ chồng con trai Nguyễn Đức Hạnh nhượng quyền sử dụng phần đất của mình cho vợ chồng con trai Nguyễn Văn Q sử dụng. Trên phần đất này đã có ngôi nhà của vợ chồng Quang làm để bố mẹ ở cùng từ năm 1987 đến nay” .

Ông khẳng đ nh hôm đó ông Hạnh không có mặt, ch Nguyễn Văn Hạnh là do ông Quang tự viết vào.

Còn trang thứ 3 trong đó có ghi nội dung “Giấy nhượng quyền sử dụng đất; Tôi là Nguyễn Văn T, vợ là Nguyễn Quỳnh Giao nhất trí để cho vợ chồng em trai là Nguyễn Văn Q và Hoàng Thị M phần đất được chia (72m2) được toàn quyền sử dụng kể từ ngày ký” ch ký Nguyễn Văn T ở trang thứ 2 và trang thứ 3 đúng là của ông. Văn bản này đ ợc lập thành 05 bản, trang thứ 3 do ông Quang viết sau nh ng lại ghi cùng ngày 12/7/2006, ông ch biết ông gi một bản còn mẹ ông và nh ng anh khác có gi hay không thì ông không biết. Sau đó ông có về nói chuyện với vợ, vợ ông không nhất trí nh ý kiến của ông nên sau đó ông có yêu cầu ông Quang đ a một bản gốc của ông Quang và một bản gốc của ông, ông có viết vào hai bản với nội dung “Phần đất chưa sử dụng đến, tôi tạm giao cho chú Quang kinh doanh, khi nào cần tới chú Quang trả lại tôi theo cam kết”, thời điểm ông viết thêm vào hai bản này ông không nhớ, văn bản này không có ch ký của ông Quang (03 văn bản còn lại ông không viết vì ông không biết ai cầm h n n a nh ng ng ời khác cũng không liên quan tới đất này, ch có ông và ông Quang liên quan tới đất của bố mẹ nên ông ch viết vào văn bản của ông và của ông Quang) văn bản ông Quang viết năm 2006 gửi Tòa án lại không có nội dung “phần đất ch a sử dụng đến tôi tạm giao chú Quang kinh doanh, khi nào tôi cần tới chú Quang trả lại tôi theo cam kết”, ông ch a hiểu đ ợc ý đ nh của ông Quang. Thực tế tr ớc khi viết văn bản năm 2006 ông Quang không bàn bạc với ông tr ớc, nên sau này ông yêu cầu ông Quang sửa lại nội dung, ông Quang cũng vui vẻ, hai anh em hoàn toàn thông cảm cho nhau. Khoảng tháng 3 năm 2018 ông có ý đ nh về làm nhà trên phần đất của ông, ông có yêu cầu ông Quang đ a giấy tờ gốc cho ông thì ông Quang nói “vợ em đi ch i, vợ em mang hết giấy tờ sổ sách đi rồi” Đến buổi chiều cùng ngày ông Quang không đ a giấy tờ gốc mà nói em đã làm sổ đỏ cho vợ chồng em rồi, ông Quang ch đ a các giấy tờ phô tô về đất đai lúc đó ông mới biết ngày 19/02/1998 mẹ ông đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Nguyễn Th Chiêu với diện tích 340m2 đất ở lâu dài thuộc thửa số 153, tờ bản đồ số 04 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh và ngày 23/9/1998 mẹ ông, bà Chiêu đã làm văn bản giấy tờ tách diện tích 290m2 đất trong diện tích 340m2 đất nói trên cho vợ chồng ông Quang bà Mai. Vợ chồng ông Quang đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/7/2004 với diện tích 290m2 đất ở lâu dài, thuộc thửa số 153, tờ bản đồ số 04. Nh vậy, việc mẹ ông đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng nh việc mẹ ông tách đất cho vợ chồng ông Quang, các anh ch em ông không ai hay biết gì.

Ngày 27/7/2018 giỗ cụ Chiêu có các con cháu gồm ông Chiểu, bà Đan, ông, bà Thủy, ông Quang, bà Hoa (vợ ông Hạnh), lúc đó ông Chiểu đọc văn bản phân chia nhà đất của bố mẹ cho các con ngày 08/12/1986 - văn bản do ông viết, lúc đó không ai có ý kiến gì, ông Chiểu nói đề ngh xem lại giấy chia quyền thừa kế sử dụng đất năm 2006 do ông Quang viết, lúc đó ông Quang phản đối lời nói của ông Chiểu, ông Chiểu có viết vào tờ giấy gốc của ông là giấy này không có giá tr vì 290m2 đất đã tách ra sổ đỏ mang tên ông Nguyễn Văn Q + bà Hoàng Th M ghi năm 2004 rồi, bà Chiêu không còn đất 290m2 n a để chia, ông Chiểu nắm để biết - văn bản này mới đ a ông Chiểu viết thêm vào bằng bút bi màu đen đề ngày 27/7/2018, văn bản này có ch ký của ông Nguyễn Văn Ch, ông, sau đó ông gửi vào cho bà Hồng và bà Hồng đã ký xác nhận ở trang thứ 4. Còn nh ng ng ời khác bà Đan, bà Thủy, ông Quang, bà Hoa không ký vào văn bản do ông Chiểu viết. Đến ngày 29/3/2018 ông có viết giấy cam kết quyền thừa kế tài sản đất trong đó có nội dung “Phần đất phía ngoài giáp với đường liên xã được chia làm hai phần. Một phần ông Nguyễn Văn Q (đã xây dựng nhà) phần còn lại thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T với diện tích 67.2 m2 có kích thước chiều rộng mặt tiền 4.2, chiều sâu 16 m” văn bản này có ch ký của 06 ng ời gồm ông, ông Quang, bà Đan, ông Chiểu, bà Hồng, bà Thủy. Tháng 4/2018 ông đ nh về xây nhà, ông Chiểu có mời ông Quang và ông ra nhà ông Chiểu có mặt vợ chồng ông Chiểu, ông có nói tuần sau ông về nhà làm, ông Quang nhất trí về việc ông sẽ về làm nhà nh ng tuần sau ông về làm nhà theo kế hoạch thì ông Quang lại không nhất trí n a. Nay di sản mà bố mẹ ông để lại gồm nhà và đất, tuy nhiên đến nay nhà của bố mẹ ông không còn do ông Quang đã sửa nhà và hiện đã xây nhà mới, ông không yêu cầu chia nhà, các công trình xây dựng mà vợ chồng ông Quang đã xây trên đất của bố mẹ ông để lại ông không có yêu cầu đòi hỏi gì, nay ông và ông Quang không thống nhất đ ợc với nhau, quan điểm của ông là 50 m2 đất để làm n i thờ cúng bố mẹ, đề ngh Tòa án căn cứ vào bản phân chia nhà, đất lập năm 1986 của bố ông để chia, ông ch lấy chiều rộng của phần đất còn lại mặt đ ờng 4,2m2; lấy 67m2. Đề ngh Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Quang và bà Mai. Nếu văn bản phân chia nhà, đất của bố mẹ ông không phù hợp với quy đ nh của pháp luật thì ông đề ngh Tòa án căn cứ vào quy đ nh của pháp luật để chia di sản thừa kế của bố mẹ ông là 286m2 đất.

Theo bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Về quan hệ anh ch em trong gia đình nh ông Nguyễn Văn T trình bày là đúng. Khi còn sống bố mẹ ông là cụ Chiêu, cụ T ờng có mảnh đất ở 09 miếng tại xóm 6, xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh, sau đó thay đổi đ a giới hành chính nay thuộc xóm 5, xã Xuân Tiến. Trên thổ đất của bố mẹ ông có hai ngôi nhà, một ngôi nhà xây 03 gian lợp rạ nằm ngoài mặt đ ờng, còn một ngôi nhà gỗ năm gian mái lợp rạ ở phía trong. Sau khi ông Chiểu kết hôn với bà Hoa, bố mẹ ông để cho vợ chồng ông Chiểu ở ngôi nhà xây 03 gian lợp rạ ngoài mặt đ ờng còn bố mẹ ông và các anh ch em ông ở nhà phía trong. Khoảng năm 1969 xã Xuân Tiến nắn sông và làm đ ờng nên đã làm vào phần nhà 03 gian phía ngoài của bố mẹ ông, xã đã đền bù, chuyển đổi cho gia đình ông Chiểu vào mảnh đất phía bên trong ngõ mà hiện gia đình ông Chiểu đang ở. Khoảng năm 1976 - 1978 ông Chiểu có mua thêm một phần đất h n 200m2 của ông Song liền thổ với đất của gia đình ông Chiểu, nh ng nay gia đình ông Chiểu đã chuyển nh ợng cho ng ời khác 300m2 đất. Do các anh ch em xây dựng gia đình và ở riêng, theo nguyện vọng của bố mẹ muốn ông lấy vợ ở quê và ở cùng bố mẹ để chăm sóc bố mẹ ông. Năm 1981 ông nghe lời bố mẹ đã kết hôn với bà Mai, năm 1984 ông bộ đội chuyển công tác về ở hẳn với bố mẹ để chăm sóc bố mẹ ông đ ợc tốt h n. Năm 1986 nhà của bố mẹ ông b xuống cấp do bão, năm 1987 vợ chồng ông đã làm lại nhà mái bằng 03 gian từ đông sang tây cho bố mẹ ông cũng nh vợ chồng con cái ông ở. Ngày 19/02/1998 mẹ ông đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Nguyễn Th Chiêu với diện tích 340m2 đất ở lâu dài thuộc thửa số 153, tờ bản đồ số 04 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh. Ngày 23/9/1998 mẹ ông là bà Chiêu đã làm văn bản giấy tờ tách diện tích 290m2 đất trong diện tích 340m2 đất nói trên cho ông và vợ ông là Hoàng Th M, có đầy đủ ch ký của xóm tr ởng là ông Vũ Linh, cán bộ đ a chính xã và các hộ liền kề ký vào trong hồ s , các anh ch em trong gia đình ch có ông Chiểu là anh trai ký nhận vì các anh ch em khác hoặc ở xa hoặc bận việc gia đình nên không ký nhận. Sáu năm sau vợ chồng ông mới đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X030994 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02622 ngày 15/7/2004 với diện tích 290m2 đất ở lâu dài, thuộc thửa số 153, tờ bản đồ số 04, diện tích đất còn lại 50m2 mẹ ông có nguyện vọng để xây từ đ ờng. Mặc dù vợ chồng ông đã đ ợc nhà n ớc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nh ng ngày 12/7/2006 ông vẫn cùng mẹ ông và nh ng ng ời con trai khác có họp bàn và làm văn bản thỏa thuận nhà đất của bố mẹ ông sẽ để ra 50m2 để xây từ đ ờng, phần đất còn lại 290m2 chia làm 04 phần bằng nhau, từ bắc xuống nam theo thứ tự mẹ ông, ông, ông Hạnh, ông Tiến mỗi ng ời một phần 72m2 (anh Chiểu đã đ ợc chia đất ở chỗ khác rồi nên không đ ợc chia n a) nh ng trong đó mẹ ông và ông Hạnh đã làm văn bản để lại phần đất cho ông, sau đó ông Tiến cũng nhất trí để lại phần đất của ông Tiến cho vợ chồng ông. Nh buổi họp gia đình đã thống nhất nh ý kiến của mẹ ông, nh ng vì ông Tiến muốn bàn bạc với vợ, sau khi ch Giao (vợ ông Tiến) nhất trí để lại phần đất của vợ chồng ông Tiến cho vợ chồng ông, ông mới ghi luôn ngày 12/7/2006. Giấy chia quyền thừa kế sử dụng đất ngày 12/7/2006 do ông viết, ông viết giấy này đ ợc sự nhất trí, đồng thuận của mẹ ông cũng nh các anh trai khác là anh Chiểu, anh Hạnh, anh Tiến. Năm 2009 vợ chồng ông phá nhà 03 gian để làm nhà 3 tầng trên diện tích đất khoảng 100m2. Từ tr ớc đến nay vợ chồng ông ở cùng với bố mẹ và chăm sóc bố mẹ, các anh ch khác cũng chăm sóc nh ng ch th nh thoảng về thăm nom, việc chăm sóc bố mẹ chủ yếu do vợ chồng ông đảm nhiệm, gánh vác. Từ tr ớc đến nay các anh ch em ông không có mâu thuẫn gì. Khi mẹ ông tách 290m2 đất cho vợ chồng ông cũng nh việc vợ chồng ông làm nhà ở năm 1987 cũng nh làm nhà năm 2009, gia đình không ghi văn bản giấy tờ gì nh ng mọi ng ời đều biết và không ai có ý kiến gì. Tài liệu ông Tiến giao nộp Tòa án mà ông đ ợc sao chụp thấy “Văn bản phân chia nhà đất của bố mẹ cho các con” vào ngày 08/12/1986, theo văn bản nhà đất của cụ Chiêu, cụ T ờng sẽ chia đôi cho ông Tiến và ông mỗi ng ời một nửa. Việc phân chia tr ớc đây ông không biết, khi ông Tiến nộp đ n ra xã lúc đó ông mới biết. Ông xem văn bản phân chia nhà đất của bố mẹ cho các con, ông khẳng đ nh văn bản này do ông Tiến viết. Về ch ký Chiêu, ông không biết đây có phải ch ký của bố hay mẹ ông không. Còn ch ký của bà Nguyễn Th Đ và bà Nguyễn Th Th ông khẳng đ nh do ông Tiến mới đ a cho bà Đan và bà Thủy ký vào năm 2018 chứ không phải các ch ký thời điểm năm 1986. Còn ch ký của ông Chiểu cũng là thời gian mới đây ông Tiến đ a cho ông Chiểu ký vào.

Về nội dung của văn bản cũng không phù hợp vì bố mẹ ông đang ở nhà, thời điểm đó bố mẹ ông không phải nghèo khó gì mà ông Tiến lại viết “nhà bếp 02 gian gi lại cho bố mẹ đ ợc, còn ngôi nhà gỗ 05 gian dỡ đem bán, số tiền bán gi lại để bố mẹ d ỡng già” ông không hiểu lý do gì phải dỡ nhà đem bán d ỡng già, vậy trách nhiệm các con ở đâu, trong khi vợ chồng ông ở cùng bố mẹ chăm sóc bố mẹ ông đầy đủ trách nhiệm của ng ời con. Trong văn bản chia đôi không ghi cụ thể mốc giới của các bên. H n n a năm 1987 nhà của bố mẹ ông xuống cấp, đ ợc sự đồng ý của bố mẹ, ông dỡ nhà gỗ cấp 4 năm gian của bố mẹ để làm nhà 03 gian mái bằng cùng ở và đến năm 2009 ông dỡ nhà 03 gian mái bằng để xây nhà 03 tầng và các công trình phụ với diện tích gần 200m2 nh ng lúc đó tất cả các anh ch em khác đều biết và đồng thuận nh ng bản thân ông Tiến cũng không có ý kiến gì. Ông không nhất trí theo văn bản phân chia trên vì không hợp tình, hợp lý. Ông không nhất trí theo yêu cầu khởi kiện của ông Tiến vì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ ông cũng nh vợ chồng ông đã đ ợc c quan Nhà n ớc có thẩm quyền cấp, việc cấp giấy chứng nhận là đúng trình tự thủ tục, cấp công khai minh bạch.

Tr ớc đây theo văn bản phân chia đất gồm mẹ ông và nh ng ng ời con trai phần đất của bố mẹ để lại có 340m2 trong đó 50m2 để làm từ đ ờng, diện tích đất còn lại 290m2 chia làm 04 phần, phần của ông Hạnh (nay là bà Hoa và các con của ông Hạnh) tr ớc đây đã cho vợ chồng ông sử dụng, hiện vợ chồng ông đã sử dụng ½ phần đất của ông Hạnh tức 1.4 m đất mặt đ ờng chạy dọc vào trong, phần của ông Hạnh còn lại 1.4 m. Nay (ông Hạnh đã chết) - bà Hoa và các con của ông Hạnh bà Hoa nếu đồng ý để lại phần đất còn lại 1.4 m cho ông Tiến thì ông cũng nhất trí nh vậy phần của ông Tiến sẽ là 2.8 m + 1.4 m (Phần của nhà ông Hạnh) đất mặt đ ờng chạy dọc vào trong dài 16 m, thì ông cũng nhất trí với điều kiện tất cả nh ng ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác cùng đều đồng ý.

Ông và ông Tiến không thể thống nhất đ ợc, di chúc đó không hợp pháp về hình thức và nội dung, nên ông Tiến không có quyền đòi. Ông nhất trí để 50m2 để làm từ đ ờng, còn diện tích đất 290m2 của vợ chồng ông đã đ ợc mẹ ông chuyển nh ợng cho vợ chồng ông, còn tình cảm thì chia làm 4 phần nh văn bản anh em đã thống nhất.

Theo lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Hoàng Th M trình bày: Về quan hệ gia đình cũng nh nguồn gốc đất đang tranh chấp nh ông Nguyễn Văn Q là chồng bà trình bày là đúng. Nay bà nhất trí với quan điểm của ông Quang.

- Ông Nguyễn Văn Ch trình bày: Về quan hệ anh ch em trong gia đình cũng nh nguồn gốc đất ông Tiến, ông Quang trình bày là đúng: Đất của bố mẹ ông để lại gồm 340 m2 đất, trong đó nguyện vọng của mẹ ông cũng nh anh em ông để lại 50 m2 đất để làm từ đ ờng. Tr ớc đây cụ Chiêu, cụ T ờng ch a chia đất cho ông. Đất vợ chồng ông đang ở hiện nay tại xóm 5, xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng do vợ chồng ông tự mua. Văn bản phân chia nhà, đất của bố mẹ cho các con ngày 08/12/1986 có ghi ch số đất này cho 2 em Tiến Quang con trai Nguyễn Văn Ch đúng là ch viết ch ký của ông. Ông viết văn bản này với mục đích đất của bố mẹ ông chia cho ông Tiến, ông Quang thì ông nhất trí, ông không nhận đất. Nếu sau này ông đ ợc h ởng di sản thừa kế của bố mẹ, phần của ông đ ợc h ởng, đ ợc chia ông sẽ để lại toàn bộ cho ông Nguyễn Văn T, ông Tiến không phải thanh toán giá tr tài sản gì cho ông.

- Bà Nguyễn Th Đ trình bày: Về quan hệ họ hàng anh ch em trong gia đình cũng nh nguồn gốc đất nh các đ ng sự trình bày là đúng. Bà mong muốn ông Tiến và ông Quang hòa giải với nhau là tốt nhất, nếu không hòa giải đ ợc, nếu sau này bà đ ợc h ởng, đ ợc chia di sản thừa kế của bố mẹ bà, phần của bà đ ợc h ởng, đ ợc chia bà sẽ để lại toàn bộ cho ông Nguyễn Văn Q và bà Hoàng Th M, ông Quang bà Mai không phải thanh toán chênh lệch tài sản gì cho bà.

- Ông Hoàng Văn Nh, anh Hoàng Minh Th2, anh Hoàng Đức Th3, anh Hoàng Trung Th4, ch Hoàng Thu Th5 đều thống nhất trình bày: Về quan hệ họ hàng cũng nh nguồn gốc đất của hai cụ Chiêu nh ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Q trình bày là đúng. Nếu sau này ông Nh ng, anh Thiện, anh Th nh, anh Thông, ch Thảo đ ợc h ởng di sản thừa kế của hai cụ Chiêu, phần của ông Nh ng, anh Thiện, anh Th nh, anh Thông, ch Thảo đ ợc h ởng, đ ợc chia sẽ để lại toàn bộ cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, vợ chồng ông Quang không phải thanh toán chênh lệch tài sản gì cho ông Nh ng, anh Thiện, anh Th nh, anh Thông, ch Thảo.

- Bà Phan Th H1, ch Nguyễn Th Kim Ng, ch Nguyễn Th Tâm D, anh Nguyễn Đức Tr, anh Nguyễn Đức S đều thống nhất trình bày: Về quan hệ họ hàng gia đình cũng nh nguồn gốc đất của hai cụ Chiêu để lại nh ông Tiến, ông Quang trình bày là đúng: Bà Hoa cũng nh các con của bà Hoa là ch Nguyệt, ch Dung, anh Tr ờng, anh S n đ ợc h ởng phần di sản của hai cụ Chiêu (trong đó ông Nguyễn Văn Hạnh là con bà vợ cả của ông Nguyễn Văn Chiêu) thì để lại cho vợ chồng Nguyễn Văn Q.

Ngoài ra bà Hoa còn đề ngh Tòa án không hủy sổ đỏ đã cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q. Mặt khác khi ông Tiến mua nhà đã đ ợc bà Chiêu cho vàng.

- Bà Nguyễn Th H trình bày: Về quan hệ họ hàng gia đình cũng nh nguồn gốc đất của hai cụ Chiêu mà ông Tiến, ông Quang trình bày là đúng. Kỷ phần di sản mà bà đ ợc h ởng thừa kế của bố mẹ thì bà để lại cho ông Nguyễn Văn T, bà không yêu cầu ông Tiến phải thanh toán gì.

Người làm chứng trình bày:

- Ông L ng Viết Trợ trình bày: Ông và ông Nguyễn Văn Chiêu, bà L ng Th T ờng là quan hệ anh em, bà L ng Th T ờng là ch gái ruột ông, ông Chiêu là anh rể ông. Hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất gi a bà Nguyễn Th Chiêu cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M lập ngày 23 tháng 9 năm 1998. Ông là ng ời làm chứng và trực tiếp ký vào Hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất gi a bà Nguyễn Th Chiêu với vợ chồng Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M. Khi bà Chiêu làm thủ tục chuyển nh ợng quyền sử dụng đất cho ông Quang, bà Mai thì bà Chiêu khỏe mạnh bình th ờng, minh mẫn.

- Ông Vũ Mạnh Linh trình bày: Ông không có quan hệ gì với hai cụ Nguyễn Văn Chiêu, L ng Th T ờng cũng nh vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M. Ông làm xóm tr ởng từ năm 1994 đến năm 2017 ông không làm n a chuyển làm bí th chi bộ. Trong thời gian ông làm xóm tr ởng ông có ký là ng ời làm chứng trong hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất lập ngày 23 tháng 9 năm 1998 gi a bà Nguyễn Th Chiêu cho ông ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M. Lúc bà Chiêu làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông Quang, bà Mai hoàn toàn khỏe mạnh, minh mẫn. Sau khi vợ chồng ông Quang, bà Mai đ ợc nhà n ớc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh ch em trong gia đình (là con của bà Chiêu) không ai có ý kiến gì. Cuối năm 2018 thì ông Tiến và ông Quang xảy ra tranh chấp đất đai, ban công tác mặt trận của c sở đã hòa giải nh ng không thành.

Kết quả khảo sát xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản ngày 20 tháng 9 năm 2019.

- Diện tích đo đạc thực tế tại thửa số 153 là 336m2.

- Giá đất là 25.000.000đ/m2.

- Nhà 2 tầng + 1 phòng thờ có giá tr : 730.000.000đ.

- Bể n ớc: 11.800.000đ;

- Mái tôn: 20.700.000đ;

- Sân gạch: 3.100.000đ;

- Sân bê tông: 5.600.000đ;

- Nhà vệ sinh: 3.800.000đ;

- T ờng bao phía tr ớc nhà là khung cột sắt: 10.500.000đ;

- T ờng rào phía trái và phía sau xây gạch: 33.000.000đ;

- T ờng rào phía phải nhà giáp hộ ông Cảnh: 6.600.000đ;

Kết quả xác minh thu thập chứng cứ tại UBND xã Xuân Tiến:

+ Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tranh chấp cũng nh việc tr ớc đây UBND xã làm sông, làm đ ờng có liên quan đến đất của gia đình cụ Chiêu, ông Chiểu:

Khi còn sống cụ Chiêu, cụ T ờng có mảnh đất ở tại xóm 6a, xã Xuân Tiến, nay là Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh. Trên thổ đất của cụ Chiêu cụ T ờng có hai ngôi nhà, một ngôi nhà xây 03 gian lợp rạ nằm ngoài mặt đ ờng và một ngôi nhà gỗ năm gian mái lợp rạ ở phía trong. Sau khi ông Chiểu kết hôn với bà Hoa, vợ chồng ông Chiểu ở ngôi nhà xây 03 gian lợp rạ ngoài mặt đ ờng, hai cụ Chiêu và nh ng ng ời con khác của các cụ ở nhà phía trong. Khoảng năm 1969 hoặc năm 1970 xã Xuân Tiến nắn sông và làm đ ờng vào phần nhà 03 gian phía ngoài mà vợ chồng ông Chiểu ở, xã đã đền bù, chuyển đổi và gia đình ông Chiểu vào mảnh đất phía bên trong ngõ mà hiện gia đình ông Chiểu đang ở.

Theo hồ s giấy tờ thì không thể hiện việc cụ Chiêu, cụ T ờng cắt chia đất cho vợ chồng ông Chiểu nh ng thực tế vợ chồng ông Chiểu đã ở 03 gian nhà phía ngoài của cụ Chiêu, cụ T ờng sau đó xã làm sông làm đ ờng và đã đền bù cho gia đình ông Chiểu 368m2 đất đ ợc hoán đổi vào v trí đất mà hiện nay gia đình ông Chiểu đang sử dụng. Nh vậy, có thể khẳng đ nh mặc dù ông Chiểu không đ ợc bố mẹ chia đất bằng văn bản giấy tờ nh ng vợ chồng ông Chiểu đã đ ợc bố mẹ cho đất ở, thực tế khi UBND xã làm sông làm đ ờng vào phần nhà đất hộ ông Chiểu ở thì hộ ông Chiểu đã đ ợc đền bù 368m2 đất nh vậy đ ợc coi là ông Chiểu đã đ ợc cụ Chiêu, cụ T ờng cắt chia đất.

Theo bản đồ năm 1976 tại mảnh 5 thể hiện chủ sử dụng là Đăng (ông Chiểu có tên gọi khác là Đăng) thửa 580 có diện tích 572m2 trong đó 204m2 là đất ao.

Tại bản đồ năm 1987, tại thửa số 819, tờ bản đồ số 1a thể hiện: Chủ sử dụng đất Đăng với diện tích đất là 432m2 trong đó đất thổ c là 360m2, thổ canh là 72m2.

Ngoài ra ông Chiểu còn mua ao của ông Song với diện tích 190m2 đất v ờn đ ợc thể hiện tại thửa 176 bản đồ lập năm 1990. Đ ợc thể hiện 710m2 (thổ c 300m2, v ờn 190m2, ao 220m2).

+ Quá trình sử dụng đất vợ chồng ông Quang, bà Mai ở với bố mẹ có sửa sang cải tạo nhà đất để bố mẹ và các con cùng sử dụng, cụ thể:

Do bão gió năm 1986 ngôi nhà gỗ năm gian mái lợp rạ ở phía trong b ảnh h ởng nên vợ chồng ông Quang, bà Mai đã làm lại nhà mái bằng 03 gian để hai cụ Chiêu, T ờng cùng vợ chồng con cái ông Quang ở. Sau đó vợ chồng ông Quang, bà Mai lại phá nhà 03 gian để làm nhà 02 tầng và 01 tum (phòng thờ) nh hiện nay. Kết quả xem xét thẩm đ nh và đ nh giá nhà đất tranh chấp ngày 20/9/2019 trong đó có: Nhà 2 tầng + 01 phòng thờ và các công trình xây dựng trên đất. Đất tranh chấp đ nh giá 25.000.000 đồng/m2 là phù hợp với giá đất giao d ch tại thời điểm hiện nay của đ a ph ng.

+ Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Chiêu; hộ ông Quang, bà Mai:

- Hộ bà Nguyễn Th Chiêu đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00895 QSD Đ/459/QĐUB vào ngày 19/02/1998 với diện tích 340 m2 đất ở lâu dài thuộc thửa số 153, tờ bản đồ số 04;

- Hộ ông Quang, bà Mai đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X030994 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02622 ngày 15/7/2004 với diện tích 290 m2 đất ở lâu dài, thuộc thửa số 153, tờ bản đồ số 04;

Còn lại 50m2 đất đ a ph ng đ ợc biết gia đình cụ Chiêu thống nhất để làm từ đ ờng.

Đất ông Tiến đang khởi kiện thuộc thửa số 153, tờ bản đồ số 4, đ a chính xã Xuân Tiến, diện tích đo đạc thực tế 336m2, diện tích đo đạc thực tế hụt h n so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 4m2 có thể sai số do đo đạc.

- Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử đất cho hộ bà Chiêu là cấp đại trà; còn việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông Quang, bà Mai là cấp theo nh trong hồ s .

- Sau khi đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Chiêu, hộ ông Quang, bà Mai thì việc đóng góp nghĩa vụ tài chính với nhà n ớc về nhà đất do vợ chồng ông Quang, bà Mai thực hiện.

Quá trình vợ chồng ông Quang, bà Mai sử dụng đất cùng với bố mẹ cho đến tr ớc khi các đ ng sự xảy ra tranh chấp, đ a ph ng không nhận đ ợc văn bản thể hiện cụ Chiêu, cụ T ờng có để lại di chúc. Các con của cụ Chiêu cụ T ờng cũng không có đ n từ khiếu nại về việc tranh chấp đất của cụ Chiêu, cụ T ờng gửi Ủy ban nhân dân xã Xuân Tiến.

Tại bản án dân sự s thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh đã quyết đ nh:

Căn cứ vào các Điều 357, 468; 612, 649, 650, 651, 652, 660 của Bộ luật Dân sự; các Điều 97, 166, 170 của Luật đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về chia di sản thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Văn Chiêu, cụ L ng Th T ờng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện Xuân Tr ờng đã cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M ngày 15/7/2004.

3. Giao cho ông Nguyễn Văn T đ ợc quyền sử dụng diện tích đất 54,5m2 đất ở tại thửa số 153 tờ bản đồ số 4 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh. Ông Nguyễn Văn T không phải thanh toán giá tr cho ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Th H. Ông Nguyễn Văn T đ ợc quyền sử dụng bức t ờng xây dài 15.55m tr giá 6.531.000đ và sân diện tích là 54,5m2 tr giá 4.414.000đ; tổng là 11.014.000đ.

- Buộc ông Nguyễn Văn T phải thanh toán cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M số tiền là 11.014.000đ (m ời một triệu, không trăm m ời bốn nghìn đồng).

- Ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M có trách nhiệm bàn giao diện tích 54,5m2 đất ở tại thửa số 153, tờ bản đồ số 4 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh bao gồm đất ở và các công trình xây dựng, tài sản khác trên phần đất này cho ông Nguyễn Văn T nhận.

4. Giao cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M đ ợc quyền sử dụng diện tích đất là 88,5m2; cộng với phần diện tích đất của cụ Nguyễn Th Chiêu đã cho 143m2; tổng diện tích đất 231,5m2 đất ở tại thửa 153, tờ bản đồ số 4, cũng nh các công trình xây dựng nằm trên phần diện tích đất mà mình đ ợc quyền sử dụng. Ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M không phải thanh toán giá tr cho bà Nguyễn Th Đ, bà Nguyễn Th Th, bà Phan Th H1, bà Nguyễn Th Kim Ng, bà Nguyễn Th Tâm D, ông Nguyễn Đức Tr, ông Nguyễn Đức S, ông Hoàng Văn Nh, anh Hoàng Minh Th2, anh Hoàng Đức Th3, anh Hoàng Trung Th4, ch Hoàng Thu Th5.

5. Giao cho ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Th Đ, bà Nguyễn Th H, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Th Thuỷ, ông Nguyễn Văn Q; ông Nguyễn Văn Nh ng cùng các con là anh Hoàng Minh Th2, anh Hoàng Đức Th3, anh Hoàng Trung Th4, ch Hoàng Thu Th5; bà Phan Th H1 cùng các con là ch Nguyễn Th Kim Ng, ch Nguyễn Th Tâm D, anh Nguyễn Đức Tr, anh Nguyễn Đức S đ ợc quyền sử dụng chung diện tích 50 m2 đất ở tại thửa số 153, tờ bản đồ số 4 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh.

- Ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M có trách nhiệm bàn giao diện tích 50m2 đất ở tại thửa số 153, tờ bản đồ số 4 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh bao gồm đất ở và các công trình xây dựng, tài sản khác trên phần đất này cho nh ng ng ời có tên trên.

6. Ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M phải có trách nhiệm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho c quan nhà n ớc có thẩm quyền làm thủ tục điều ch nh, tách thửa diện tích đất theo quyết đ nh của bản án.

7. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M phải tháo dỡ nh ng phần công trình và chuyển cây đi trên phần đất của ông Nguyễn Văn T đ ợc h ởng quyền sử dụng.

(Về diện tích, ranh giới, độ dài các cạnh của thửa đất được mô tả chi tiết trong sơ đồ kèm theo).

Đ ng sự có trách nhiệm liên hệ đăng ký quyền sử dụng đất với c quan Nhà n ớc có thẩm quyền về quản lý đất đai để điều ch nh về diện tích đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết đ nh của bản án. (C quan nhà n ớc có thẩm quyền điều ch nh diện tích đất cho các đ ng sự theo bản án có hiệu lực pháp luật).

Ngoài ra, bản án s thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đ ng sự.

Ngày 29/01/2023 ông Nguyễn Văn T làm đ n kháng cáo toàn bộ bản án s thẩm; với lý do quyết đ nh của bản án s thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Tr ờng, ch a phù hợp pháp luật, ảnh h ởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nh ng ng ời liên quan.

Ngày 17/01/2023 ông Nguyễn Văn Q làm đ n kháng cáo một phần bản án s thẩm; với lý do một số nội dung trong bản án s thẩm không khách quan, minh bạch, nhận đ nh không chính xác làm ảnh h ởng đến quyền lợi của ông Quang. Ông Quang đề ngh cấp phúc thẩm:

- Cho ông Quang đ ợc h ởng kỷ phần thừa kế của mẹ ông đ ợc chia từ phần di sản thừa kế của bố ông;

- Đề ngh khi chia phần di sản thừa kế của bố ông, cần xem xét đến công sức của vợ chồng ông trong việc quản lý, gi gìn, tôn tạo làm tăng giá tr của di sản thừa kế;

- Đối với diện tích đất mà ông Tiến đ ợc chia thừa kế; đề ngh giao cho ông Tiến phần đất có v trí ở phía trong thửa đất;

- Đề ngh khi chia đất cần đảm bảo sự công bằng về quyền lợi đ ợc h ởng đất giáp mặt đ ờng cho các đ ng sự, sao cho chiều rộng mặt đ ờng t ng ứng với tỷ lệ diện tích theo kỷ phần mỗi đ ng sự đ ợc h ởng;

- Đề ngh Tòa án cho giám đ nh ch ký của ông Chiểu trong văn bản chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ngày 23/9/1998 để làm rõ việc ông Chiểu đã tố cáo ông Quang là giả mạo ch ký của ông Chiểu.

Ngày 30/01/2023 bà Nguyễn Th Th làm đ n kháng cáo một phần bản án s thẩm; với lý do một số nội dung trong bản án s thẩm không khách quan, minh bạch, nhận đ nh không chính xác, không xác đ nh đầy đủ di sản thừa kế của bố, mẹ bà Thủy để lại làm ảnh h ởng đến quyền lợi của các đ ng sự. Bà Thủy đề ngh cấp phúc thẩm:

- Công nhận tính hợp pháp văn bản của bà Nguyễn Th H ký ngày 06/9/2020 về việc kỷ phần đ ợc nhận của bà Hồng dùng để góp xây nhà thờ;

- Không cho ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Ch đ ợc quyền h ởng di sản của bố bà Thủy theo quy đ nh của Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Xác đ nh kỷ phần thừa kế của mẹ bà đ ợc h ởng của bố bà thuộc về ông Nguyễn Văn Q;

- Đề ngh khi chia phần di sản thừa kế của bố bà, cần xem xét đến công sức chăm sóc, phụng d ỡng, thờ cúng, quản lý, gi gìn, tôn tạo làm tăng giá tr của di sản thừa kế của ông Quang t ng đ ng 50% phần di sản của bố bà để lại; đồng thời đề ngh cấp phúc thẩm chia lại phần diện tích đất mặt đ ờng cho chính xác, sau khi tính lại kỷ phần thừa kế của ông Quang đ ợc h ởng;

- Nếu Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xác đ nh ông Tiến, ông Chiểu, bà Hồng đ ợc h ởng di sản thừa kế, thì đề ngh cho nhận bằng tiền. Vì nhu cầu thực tế về chỗ ở của ông Tiến ở quê là không có, hiện nay ông Tiến đang ở trên căn nhà 04 tầng do Bộ quốc phòng cấp ở Hà Nội;

- Tiếp tục giao cho vợ chồng ông Quang quản lý, sử dụng 50m2 đất mà bố mẹ bà để lại nh hiện nay;

- Xác đ nh 368m2 đất mà hiện nay ông Chiểu đang quản lý, sử dụng là di sản thừa kế của bố, mẹ bà để lại;

- Xác đ nh mảnh đất mà ông Tiến mua tại khu vực Ba Hàng, Vĩnh Tuy, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội là di sản thừa kế của bố, mẹ bà để lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Th Th gi nguyên đ n kháng cáo.

Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân t nh Nam Đ nh phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đ ng sự chấp hành đúng các quy đ nh pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đ ng sự đ ợc bảo đảm.

Về đ ờng lối giải quyết vụ án. Căn cứ vào các tài liệu thu thập đ ợc l u trong hồ s vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa; đề ngh Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận một phần đ n kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Th Th và sửa một phần bản án s thẩm.

Về án phí giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án đ ợc xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Th Th:

Về việc xác đ nh khối di sản thừa kế của vợ chồng cụ Nguyễn Văn Chiêu và cụ L ng Th T ờng (Tên gọi khác Nguyễn Th Chiêu) để lại HĐXX xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án có đủ căn cứ xác đ nh, khối di sản thừa kế của vợ chồng cụ Chiêu để lại là 340m2 (Đo thực tế 386m2) có số thửa 153 thuộc tờ bản đồ số 4, Bản đồ đ a chính xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh. Ngoài ra vợ chồng cụ Chiêu không để lại di sản nào khác.

Đối với thửa đất của ông Nguyễn Văn Ch hiện nay đang sử dụng, có nguồn gốc: Sau khi ông Chiểu xây dựng gia đình đ ợc bố mẹ cho ra ở ngôi nhà xây 03 gian lợp rạ ở phía ngoài mặt đ ờng. Vợ chồng cụ Chiêu và nh ng ng ời con khác của các cụ ở nhà phía trong. Khoảng năm 1969 hoặc năm 1970 xã Xuân Tiến nắn sông và làm đ ờng vào phần nhà 03 gian phía ngoài mà vợ chồng ông Chiểu ở, xã đã đền bù, chuyển đổi và gia đình ông Chiểu vào mảnh đất phía bên trong ngõ mà hiện gia đình ông Chiểu đang ở. Theo bản đồ năm 1976 tại mảnh 5 thể hiện chủ sử dụng là Đăng (ông Chiểu có tên gọi khác là Đăng) thửa 580 có diện tích 572m2 trong đó 204m2 là đất ao. Tại bản đồ năm 1987, tại thửa số 819, tờ bản đồ số 1a thể hiện: Chủ sử dụng đất Đăng với diện tích đất là 432m2 trong đó đất thổ c là 360m2, thổ canh là 72m2. Ngoài ra ông Chiểu còn mua ao của ông Song với diện tích 190m2 đất v ờn đ ợc thể hiện tại thửa 176 bản đồ lập năm 1990; với diện tích 710m2 (thổ c 300m2, v ờn 190m2, ao 220m2). Trong quá trình sử dụng đất ông Chiểu đã đ ợc c quan nhà n ớc có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy việc bà Nguyễn Th Th kháng cáo cho rằng diện tích 368m2 đất mà hiện nay ông Chiểu đang quản lý, sử dụng là di sản thừa kế của bố, mẹ bà để lại là không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Th Th, cho rằng mảnh đất mà ông Tiến mua tại khu vực Ba Hàng, Vĩnh Tuy, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội là di sản thừa kế của bố, mẹ bà để lại. Bởi vì số tiền mà ông Nguyễn Văn T mua thửa đất nói trên là của cụ L ng Th T ờng (Nguyễn Th Chiêu) cho ông Tiến. Về việc cụ T ờng cho vàng ông Nguyễn Văn T: Ông Quang, bà Hoa, bà Đan, bà Mai có ý kiến là có nghe nói cụ T ờng cho vàng ông Tiến mua đất ở trên Hà Nội, (biên bản ngày 25 tháng 10 năm 2019 có ch ký của bà Hoa, bà Đan, ông Quang, bà Mai, anh S n (BL 258). Ông Tiến phủ nhận việc cụ T ờng cho vàng là không có. Xét thấy, đ ng sự ch nghe cụ T ờng nói lại chứ không có tài liệu chứng cứ để chứng minh, còn cụ T ờng đã chết không để lại di chúc, cho nên không có c sở để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Th Th.

Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T về việc đề ngh cấp phúc thẩm tuyên bố hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất gi a cụ L ng Th T ờng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q ngày 23/9/1998 vô hiệu cả về nội dung lẫn hình thức, ch a phù hợp pháp luật, gian dối không trung thực. Đề ngh tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện Xuân Tr ờng cấp cho vợ chồng ông Quang vào ngày 15/7/2004.

Ngày 23 tháng 9 năm 1998, cụ L ng Th T ờng (Nguyễn Th Chiêu) lập hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Quang và bà Mai đ ợc quyền sử dụng 290m2 đất, cũng nh cụ T ờng có đ n xin chuyển nh ợng quyền sử dụng đất cùng ngày cho vợ chồng ông Quang. Xét cụ T ờng làm thủ tục chuyển nh ợng quyền sử dụng đất 290m2 cho vợ chồng ông Quang và bà Mai ch a phù hợp với quy đ nh của pháp luật. Bởi lẽ, diện tích đất 290m2 là tài sản chung của cụ Chiêu và cụ T ờng; cụ Chiêu chết năm 1991. Do đó cụ T ờng ch có quyền chuyển nh ợng ½ t ng đ ng với 145m2 và kỷ phần thừa kế của cụ T ờng đ ợc h ởng trong phần di sản của cụ Chiêu để lại. Ở đây cụ T ờng đã đ nh đoạt cả phần đất của cụ Chiêu (là di sản thừa kế của cụ Chiêu) cho vợ chồng ông Quang, bà Mai; trong khi không có sự đồng thuận của các đồng thừa kế khác của cụ Chiêu là không đúng quy đ nh của pháp luật. Tuy nhiên khi làm hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Quang và bà Mai có ch ký của ông Vũ Mạnh Linh (lúc đó là xóm tr ởng), ông L ng Viết Trợ và đã đ ợc UBND xã Xuân Tiến xác nhận. Sau đó UBND xã Xuân Tiến làm thủ tục theo quy đ nh của pháp luật. Ngày 15/7/2004, UBND huyện Xuân Tr ờng đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Quang tại thửa 153, tờ bản đồ số 4 diện tích đất ở 290m2. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án, có đủ c sở kết luận ½ đất và kỷ phần thừa kế của cụ T ờng đ ợc h ởng trong phần di sản của cụ Chiêu để lại trong tổng số 290m2 đất tại thửa 153, tờ bản đồ số 4 xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh mà cụ T ờng chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Quang, thuộc quyền đ nh đoạt của cụ T ờng, không trái với quy đ nh của pháp luật cho nên đ ợc chấp nhận. Phần diện tích đất còn lại trong tổng số 290m2 tại thửa 153, tờ bản đồ số 4 xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh đ ợc xác đ nh là di sản thừa kế của cụ Chiêu để lại. Ông Tiến kháng cáo cho rằng Hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất nêu trên của cụ T ờng cho vợ chồng ông Quang là giả mạo, không đúng với ý chí của cụ T ờng, cho nên b vô hiệu toàn bộ. Nh ng ông Tiến không đ a ra đ ợc chứng cứ để chứng minh. Căn cứ vào mục 2 phần II công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao quy đ nh “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó b vô hiệu, nh ng ng ời nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...thì không đ a c quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ng ời nhận chuyển nh ợng”. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Tiến về các nội dung nh đã nêu trên.

Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T về việc đề ngh cấp phúc thẩm không chia thêm cho ông Nguyễn Văn Q kỷ phần thừa của cụ T ờng đ ợc h ởng trong phần di sản của cụ Chiêu để lại. Đồng thời cũng không chia thêm cho ông Nguyễn Văn Q đ ợc h ởng thêm 01 kỷ phần, vì đã có công chăm sóc, phụng d ỡng bố mẹ.

Nh đã phân tích ở mục [2] nói trên, cụ Chiêu chết năm 1991, di sản thừa kế của cụ Chiêu để lại đ ợc xác đ nh là ½ trong tổng số 290m2 đất tại thửa 153, tờ bản đồ số 4 xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh, Cụ Chiêu không để lại di chúc; cụ T ờng là vợ của cụ Chiêu. Do vậy, cần xác đ nh phần tài sản của cụ T ờng đ ợc h ởng là ½ trong tổng số 290m2 đất cùng với kỷ phần thừa kế mà cụ T ờng đ ợc h ởng trong phần di sản của cụ Chiêu để lại. Vì vậy, vào năm 1998 cụ T ờng hoàn toàn có quyền đ nh đoạt thông qua việc chuyển nh ợng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Quang đối với ½ trong tổng số 290m2 đất cùng với kỷ phần thừa kế mà cụ T ờng đ ợc h ởng trong phần di sản của cụ Chiêu để lại.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án cho thấy, sau khi xây dựng gia đình vợ chồng ông Nguyễn Văn Q cùng với các con sống chung với bố mẹ đẻ tức là cụ Chiêu và cụ T ờng. Trong quá trình đó ngoài việc vợ chồng ông Quang có công chăm sóc, phụng d ỡng bố mẹ khi còn sống, thờ tự sau khi bố mẹ chết đi, thì vợ chồng ông Quang còn có công quản lý, duy trì, tôn tạo, làm tăng giá tr của khối di sản thừa kế, đặc biệt là từ sau khi bố mẹ chết đi. Vì vậy, cần thiết xem xét chia cho ông Quang đ ợc h ởng thêm một kỷ phần thừa kế cho phần công sức nêu trên là hoàn toàn phù hợp với h ớng dẫn tại Án lệ số 05/2016/TANDTC ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân Tối cao.

Từ phân tích nêu trên. HĐXX xét thấy không có căn cứ để chấp nhận các nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn T về việc đề ngh không chia thêm cho ông Nguyễn Văn Q kỷ phần thừa kế của cụ T ờng đ ợc h ởng trong phần di sản của cụ Chiêu để lại; đồng thời cũng không chia thêm cho ông Nguyễn Văn Q đ ợc h ởng thêm 01 kỷ phần, vì đã có công chăm sóc, phụng d ỡng bố mẹ. Cần chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Th Th và ông Nguyễn Văn Q, sửa bản án s thẩm; để chia cho ông Quang đ ợc kỷ phần thừa kế của cụ T ờng đ ợc h ởng trong phần di sản của cụ Chiêu để lại, đ ợc h ởng kỷ phần thừa kế cho phần công sức quản lý, duy trì, tôn tạo, làm tăng giá tr của khối di sản thừa kế.

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Th Th về việc đề ngh không cho ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Ch đ ợc quyền h ởng di sản của bố bà Thủy là cụ Chiêu theo quy đ nh của Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015. HĐXX xét thấy, việc ông Quang đã xác nhận vào hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất, gi a cụ T ờng và vợ chồng ông Quang ngày 23/9/1998. Ông Tiến biết ông Quang đã hai lần xây nhà trên đất nh ng không phản đối và đã viết vào giấy nh ợng quyền sử dụng đất ngày 12/7/2019 cho ông Quang. Ngoài ra ông Chiểu, ông Tiến không chăm sóc, phụng d ỡng bố mẹ lúc ốm đau về già. Các căn cứ của bà Thủy nêu trên không phù hợp với quy đ nh tại Điều 621 Bộ luật Dân sự, quy đ nh về nh ng ng ời không đ ợc quyền h ởng di sản và Điều 620 Bộ luật Dân sự quy đ nh về từ chối nhận di sản. Do vây, không đ ợc HĐXX chấp nhận.

Về chia di sản thừa kế:

Đối với di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Chiêu: Cụ Chiêu chết năm 1991 không để lại di chúc, cho nên di sản thừa kế của cụ để lại đ ợc chia theo quy đ nh của pháp luật. Cụ Chiêu và cụ T ờng sinh đ ợc 7 ng ời con gồm: Ông Chiểu, bà Đan, bà Hồng, bà Ích (chết năm 2009), ông Tiến, bà Thủy, ông Quang. Tr ớc khi cụ Chiêu kết hôn với cụ T ờng, thì cụ Chiêu có vợ là cụ My và có một con là ông Nguyễn Văn Hạnh (chết năm 2009). Do vậy nh ng ng ời đ ợc h ởng di sản thừa kế của cụ Chiêu gồm: Cụ T ờng, ông Chiểu, bà Đan, bà Hồng, ông Tiến, bà Thủy, ông Quang. Nh ng ng ời đ ợc h ởng kỷ phần thừa kế của bà Ích (đã chết) gồm ông Nh ng, anh Thiện, anh Th nh, anh Thông, ch Thảo. Nh ng ng ời đ ợc h ởng kỷ phần thừa kế của ông Hạnh (đã chết) gồm bà Hoa, ch Nguyệt, ch Dung, anh Tr ờng, anh S n. Do ông Quang là ng ời có công trong việc quản lý, duy trì, tôn tạo, làm tăng giá tr của khối di sản thừa kế, cho nên ông Quang đ ợc chia thêm một kỷ phần thừa kế.

Theo kết quả thẩm đ nh và đo đạc tại chỗ, di sản của cụ Chiêu và cụ T ờng để lại ch còn 336m2 đất. Quá trình giải quyết vụ án các đ ng sự, đều thống nhất để lại 50m2 để làm nhà thờ, cho nên di sản còn lại để chia thừa kế là 286m2. Do 286m2 là tài sản chung của cụ Chiêu và cụ T ờng, nên di sản của cụ Chiêu để lại là 143m2, cụ T ờng là 143m2. Cụ Chiêu chết không để lại di chúc, nh vậy di sản của cụ Chiêu sẽ đ ợc chia làm 10 phần, mỗi kỷ phần đ ợc h ởng 14,3m2: Cụ thể cụ T ờng, ông Chiểu, bà Đan, bà Hồng, ông Tiến, bà Thủy mỗi ng ời đ ợc h ởng 14,3m2, ông Quang đ ợc h ởng 14,3m2. Bà Ích đã chết, cho nên ông Nh ng, anh Thiện, anh Th nh, anh Thông, ch Thảo đ ợc h ởng kỷ phần thừa kế của bà Ích là 14,3m2. Ông Hạnh đã chết, cho nên bà Hoa, ch Nguyệt, ch Dung, anh Tr ờng, anh S n đ ợc h ởng kỷ phần thừa kế của ông Hạnh là 14,3m2.

Ông Tiến đ ợc ông Chiểu và bà Hồng nh ờng kỷ phần và không yêu cầu ông Tiến phải thanh toán giá tr ; cho nên ông Tiến đ ợc h ởng di sản là 14,3 x 3 = 42,9m2.

Ông Quang đ ợc bà Đan, bà Thủy, ông Nh ng và các con của bà Ích, bà Hoa và các con của ông Hạnh nh ờng kỷ phần và không yêu cầu ông Quang phải thanh toán giá tr ; ông Quang còn đ ợc h ởng 02 kỷ phần (trong đó 01 kỷ phần của bản thân ông cùng với 01 kỷ phần cho công sức quản lý, duy trì…). Do vậy di sản ông Quang đ ợc h ởng là 14,3 x 6 = 85.8m2. Ngoài ra ông Quang còn đ ợc h ởng 157,3m2 (Trong đó có ½ t ng đ ng với 143m2 phần tài sản chung của cụ T ờng trong tổng số 286m2 và 14,3m2 là kỷ phần thừa kế của cụ T ờng đ ợc h ởng trong phần di sản của cụ Chiêu). Theo hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất lập ngày 23/9/1998 gi a cụ T ờng cho vợ chồng ông Quang nh nhận đ nh ở mục [2] nói trên. Nh vậy số di sản thừa kế mà ông Quang đ ợc h ởng là 85,8m2 157,3 m2 = 243,1m2.

+

Đối với di sản thừa kế của cụ L ng Th T ờng: Cụ T ờng chết vào năm 2007. Tuy nhiên tr ớc khi chết, vào năm 1998 cụ T ờng đã lập hợp đồng chuyển nh ợng toàn bộ phần di sản của cụ cho vợ chồng ông Quang nh nhận đ nh ở mục [2] nói trên, do vậy phần di sản của cụ không còn n a, cho nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Về di sản sử dụng vào viêc thờ cúng: Trong quá trình giải quyết vụ án; các đồng thừa kế đều thống nhất giành ra 50m2 trong thửa đất số 153, để sử dụng vào viêc xây dựng nhà thờ, thờ cúng cha mẹ, tổ tiên. Xét nguyện vọng của các đ ng sự là hoàn toàn phù hợp với quy đ nh của pháp luật cho nên cần đ ợc chấp nhận. Cần phải xác đ nh 50m2 trong thửa đất số 153 là di sản thừa kế, các đồng thừa kế đều thống nhất không phân chia và để sử dụng vào việc thờ cúng; do vậy tất cả các đồng thừa kế đều có quyền lợi trong diện tích đất này. Vì vậy, cấp s thẩm ghi tên tất cả các đồng thừa kế là chủ sử dụng đối với diện tích đất này và tạm giao cho ông Quang đ ợc quyền quản lý, sử dụng là đúng đắn. Nội dung kháng cáo của ông Tiến đề ngh không ghi tên các con của ông Hạnh và các con của bà Ích vì ông Hạnh, bà Ích đều đã chết là chủ sử dụng đối với diện tích đất này, không đ ợc HĐXX chấp nhận.

Về chia hiện vật di sản thừa kế cho các đ ng sự: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Th Th và ông Nguyễn Văn Q về vấn đề này HĐXX xét thấy; thửa đất số 153, tờ bản đồ số 4 xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh, từ tr ớc tới nay do vợ chồng cụ Chiêu quản lý sử dụng, năm 1981 sau khi ông Quang xây dựng gia đình thì vợ chồng ông Quang sống cùng với bố mẹ trên thửa đất này; sau khi vợ chồng cụ Chiêu chết đi thì vợ chồng ông Quang quản lý sử dụng. Trong quá trình sử dụng vào năm 2009 ông Quang đã phá nhà mái bằng xây dựng vào năm 1987, để quy hoạch lại xây nhà mái bằng mới có diện tích lớn h n nhà cũ. Căn nhà này quay h ớng Đông giáp đ ờng trục xã, đ ợc xây dựng trên h n ½ chiều rộng của thửa đất tính theo cạnh phía Đông giáp trục đ ờng xã, phần còn lại ông Quang xây nán lợp tôn về phía Nam để bán hàng diện tích gần hết chiều rộng của thửa đất tính theo cạnh phía Đông giáp trục đ ờng xã. Trong quá trình giải quyết vụ án các đồng thừa kế đều có yêu cầu đ ợc nhận hiện vật theo kỷ phần đ ợc h ởng; đồng thời đề ngh khi chia đất cần đảm bảo sự công bằng về quyền lợi đ ợc h ởng đất giáp mặt đ ờng cho các đ ng sự, sao cho chiều rộng mặt đ ờng t ng ứng với tỷ lệ diện tích theo kỷ phần mỗi ng ời đ ợc h ởng. Xét thấy thửa đất số 153, tờ bản đồ số 4 xã Xuân Tiến, huyện Xuân Tr ờng, t nh Nam Đ nh; có cạnh phía Đông giáp trục đ ờng xã ch có chiều dài là 11,27m. Sau khi đ ợc cụ T ờng chuyển nh ợng cho ½ diện tích đất của thửa đất số 153, ông Quang đã xây dựng nhà mái bằng kiên cố về phía Bắc trên h n ½ chiều rộng của thửa đất tính theo cạnh phía Đông giáp trục đ ờng xã. Vì vậy ½ di sản của cụ Chiêu để lại trên thực tế ch có chiều rộng khoảng 4,5m tính theo cạnh phía Đông giáp trục đ ờng xã. Nh vậy, nếu chia phần đất này thành 10 kỷ phần theo nguyên tắc, đồng thừa kế nào cũng đ ợc h ởng đất giáp trục đ ờng xã thì mỗi kỷ phần ch đ ợc 0,45m đất giáp trục đ ờng xã. Nếu nh vậy thì phần đất là di sản mà ông Nguyễn Văn T đ ợc chia là 03 kỷ phần với diện tích 42,9m2, trong đó cạnh phía Đông giáp trục đ ờng xã ch có chiều dài khoảng 1,35m, với kích th ớc 1,35m x 31,77m thì gần nh không sử dụng vào mục đích gì đ ợc. Xét nguyện vọng của ông Tiến là đ ợc chia di sản thừa kế bằng hiện vật, để ông về quê xây nhà sống quãng đời còn lại gần anh em, làng xóm. HĐXX xét thấy, cần chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Quang chia cho ông Tiến đ ợc quyền sử dụng phần diện tích đất về phía Tây có v trí giáp với nhà ông Quang và giáp với diện tích đất để xây nhà thờ. Do phần diện tích đất của ông Tiến đ ợc chia ch có diện tích 42,9m2, để tạo điều kiện thuận lợi cho ông Tiến khi xây dựng nhà. Xét thấy cần công nhận sự tự nguyện của ông Quang tặng cho ông Tiến thêm 7.1m2 đất từ phần diện tích đất mà ông Quang đ ợc chia thừa kế. Nội dung kháng cáo của bà Thủy đề ngh không cho ông Chiểu, ông Tiến, bà Hồng nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, không đ ợc HĐXX chấp nhận.

Từ nhận đ nh trên đây; HĐXX xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Th Th. Sửa bản án s thẩm chia cho ông Tiến đ ợc quyền sử dụng 50m2 đất về phía Tây có v trí giáp với nhà ông Quang và giáp với diện tích đất để xây nhà thờ. Chia cho ông Quang đ ợc quyền sử dụng, sở h u các công trình xây dựng gắn liền với quyền sử dụng 236m2 về phía Đông giáp đ ờng trục xã.

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Th Th.

Án phí dân sự s thẩm: Miễn án phí dân sự s thẩm cho ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Th Đ, bà Nguyễn Th H, bà Nguyễn Th Th, bà Phan Th H1, ông Hoàng Văn Nh, bà Nguyễn Th Kim Ng, bà Nguyễn Th Tâm D.

Buộc anh Hoàng Minh Th2, anh Hoàng Đức Th3, anh Hoàng Trung Th4, ch Hoàng Thu Th5, anh Nguyễn Đức Tr, anh Nguyễn Đức S phải nộp tiền án phí dân sự s thẩm cho kỷ phần di sản thừa kế mà mình đ ợc h ởng.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

QUYẾT ĐỊNH:

Sửa một phần bản án sơ thẩm

Căn cứ vào các Điều 357, 468; 612, 649, 650, 651, 652, 660 của Bộ luật Dân sự; các Điều 97, 166, 170 của Luật đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27, Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về chia di sản thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Văn Chiêu, cụ L ng Th T ờng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện Xuân Tr ờng đã cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M ngày 15/7/2004.

3. Giao cho ông Nguyễn Văn T đ ợc quyền sử dụng diện tích đất 50m2 (Trong đó có 42,9m2 đ ợc chia thừa kế và 7,1m2 đ ợc ông Nguyễn Văn Q tặng cho) thuộc loại đất ở tại thửa số 153 tờ bản đồ số 4 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh, có v trí phía Đông giáp đất nhà ông Nguyễn Văn Q, phía Tây giáp đất để xây dựng nhà thờ, phía Nam giáp từ đ ờng họ Mai, phía Bắc giáp ngõ đi. Ông Nguyễn Văn T không phải thanh toán giá tr cho ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Th H và ông Nguyễn Văn Q.

- Ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M có trách nhiệm bàn giao diện tích 50m2 đất ở tại thửa số 153, tờ bản đồ số 4 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh có v trí tứ cận nh đã nêu ở mục (3) nói trên. Đồng thời vợ chồng ông Quang phải có trách nhiệm tháo dỡ phần các công trình xây dựng, di chuyển cây cối, tài sản khác trên phần đất này để bàn giao cho ông Nguyễn Văn T.

4. Giao cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M đ ợc quyền sử dụng diện tích đất đ ợc chia th a kế là 85,8m2 cộng với phần diện tích đất nhận chuyển nh ợng của cụ L ng Th T ờng (Nguyễn Th Chiêu) là 157,3m2; sau khi trừ đi 7,1m2 ông Quang tặng cho ông Nguyễn Văn T. Tổng diện tích đất vợ chồng ông Quang đ ợc quyền sử dụng là 236m2 thuộc loại đất ở; có v trí phía Đông giáp trục đ ờng xã, phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn T, phía Nam giáp đất nhà ông Cảnh, phía Bắc giáp ngõ đi, tại thửa 153, tờ bản đồ số 4 xã Xuân Vinh, huyện Xuân Tr ờng, tinh Nam Đ nh và đ ợc quyền sở h u các công trình xây dựng nằm trên phần diện tích đất này. Ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M không phải thanh toán giá tr cho bà Nguyễn Th Đ, bà Nguyễn Th Th, bà Phan Th H1, bà Nguyễn Th Kim Ng, bà Nguyễn Th Tâm D, ông Nguyễn Đức Tr, ông Nguyễn Đức S, ông Hoàng Văn Nh, anh Hoàng Minh Th2, anh Hoàng Đức Th3, anh Hoàng Trung Th4, ch Hoàng Thu Th5.

5. Giao cho ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Th Đ, bà Nguyễn Th H, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Th Thuỷ, ông Nguyễn Văn Q; ông Nguyễn Văn Nh ng cùng các con là anh Hoàng Minh Th2, anh Hoàng Đức Th3, anh Hoàng Trung Th4, ch Hoàng Thu Th5; bà Phan Th H1 cùng các con là ch Nguyễn Th Kim Ng, ch Nguyễn Th Tâm D, anh Nguyễn Đức Tr, anh Nguyễn Đức S đ ợc quyền sử dụng chung diện tích 50m2 đất ở tại thửa số 153, tờ bản đồ số 4 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh; có v trí phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn T, phía Tây giáp ngõ đi, phía Nam giáp từ đ ờng họ Mai, phía Bắc giáp ngõ đi.

- Ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M có trách nhiệm bàn giao diện tích 50m2 đất ở tại thửa số 153, tờ bản đồ số 4 tại Xóm 5, xã XT, huyện XT, t nh Nam Đ nh và các công trình xây dựng, cây cối, tài sản khác trên phần đất này, theo yêu cầu cho nh ng ng ời có tên nêu ở mục (5) nói trên.

6. Ông Nguyễn Văn Q, bà Hoàng Th M phải có trách nhiệm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho c quan nhà n ớc có thẩm quyền làm thủ tục điều ch nh, tách thửa đối với các diện tích đất theo quyết đ nh của bản án.

(Về diện tích, ranh giới, độ dài các cạnh của các thửa đất được mô tả chi tiết trong sơ đồ kèm theo).

7. Đ ng sự có trách nhiệm liên hệ đăng ký quyền sử dụng đất với c quan Nhà n ớc có thẩm quyền về quản lý đất đai để điều ch nh về diện tích đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết đ nh của bản án. (C quan nhà n ớc có thẩm quyền điều ch nh diện tích đất cho các đ ng sự theo bản án có hiệu lực pháp luật).

8. Về án phí:

- Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Th Th.

- Buộc anh Hoàng Minh Th2, anh Hoàng Đức Th3, anh Hoàng Trung Th4, ch Hoàng Thu Th5, anh Nguyễn Đức Tr, anh Nguyễn Đức S mỗi ng ời phải nộp 3.843.125đ (Ba triệu tám trăm bốn m i ba nghìn một trăm hai m i năm đồng) tiền án phí dân sự s thẩm.

9. Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Trong tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án và ng ời phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b c ỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án đ ợc thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ