- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N ly hôn anh A"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Văn A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2022/HNGĐ-ST Ngày 28 - 12 `- 2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Thi
Ông Vũ Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Trịnh Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 164/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 64/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ng; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã AĐ, huyện AD, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số 5, đường vòng H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn A; nơi cư trú: Thôn A, xã AĐ, huyện AD, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 04 tháng 10 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Ng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ng và anh Nguyễn Văn A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AĐ, huyện AD, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 07 tháng 3 năm 2003. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, bất đồng trong việc nuôi dạy con chung. Chị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Văn A.
- Về con chung: Chị Phạm Thị Ng và anh Nguyễn Văn A có hai con chung là Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2003 và Nguyễn Hải A, sinh ngày 02 tháng 11 năm 2007. Con chung tên Nguyễn Tuấn Hải đã đến tuổi trưởng thành, có khả năng lao động nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị Ng đang nuôi con chung tên Nguyễn Hải A, chị xin được tiếp tục nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Ng và anh Nguyễn Văn A có tài sản chung nhưng để tự thỏa thuận với nhau, nếu không được sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn A trình bày: Vợ chồng có mâu thuẫn bất đồng trong việc nuôi dạy con chung nên mỗi người sống một nơi, anh không đồng ý ly hôn. Anh đồng ý với quan điểm của chị Ng về con chung. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Ng và anh Nguyễn Văn A. Giao con chung tên Nguyễn Hải A, sinh ngày 02 tháng 11 năm 2007 cho chị Phạm Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung chị Ng, anh A không yêu cẩu Tòa án giải quyết. Chị Phạm Thị Ng phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn A đang cư trú tại xã AĐ, huyện AD, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn A vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn A.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Ng và anh Nguyễn Văn A đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 07 tháng 3 năm 2003 tại Ủy ban nhân xã AĐ, huyện AD, thành phố Hải Phòng). Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Văn A.
. Về con chung: Chị Phạm Thị Ng và anh Nguyễn Văn A có hai con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2003 và Nguyễn Hải A, sinh ngày 02 tháng 11 năm 2007. Con chung tên Nguyễn Tuấn H đã đến tuổi trưởng thành, có khả năng lao động nên chị Ng không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị Ng đang nuôi con chung tên Nguyễn Hải A đã ổn định, chị Ng có điều kiện nuôi con chung. Vì vậy giao con chung tên Nguyễn Hải A cho chị Ng nuôi con là phù hợp. Chị Ng không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung, để hai bên thỏa thuận tự giao nhận cho nhau. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
. Về tài sản chung: Chị Ng trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng để tự thỏa thuận giao nhận cho nhau, nếu không được sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau, anh A không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.
. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Ng phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Văn A.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hải A, sinh ngày 02 tháng 11 năm 2007 cho chị Phạm Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Ng phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004296 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị Ng đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Ng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Văn A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục THADS huyện An Dương ; - UBND xã AĐ (Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 07/3/2003); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Lý |