- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy "Nguyễn Hoàng P" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2021/HS-ST Ngày 19-11- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc An.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Sang;
2. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Kha - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng11 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1999, tại Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng M và bà Lê Thị Ánh H; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 64/QĐ-TA ngày 27/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng 12 tháng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 22/12/2019 bỏ trốn cho đến nay; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/6/2021 đến ngày 18/6/2021 chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 10/6/2021, Nguyễn Hoàng P đến gặp người tên Nam không xác định nhân thân, lai lịch nhờ Nam chở đến Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy với mục đích về sử dụng thì Nam đồng ý. Nam điều khiển xe mô tô chở Phúc đến quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người tên Đen không xác định địa chỉ mua 4.000.000 đồng ma túy đá. Sau khi mua ma túy, Nam chở P về thành phố Tây Ninh và trả công cho Nam 500.000 đồng. Chiều ngày 11/6/2021, P nhờ Nam chở về khu vực xã Mỏ Công, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh rồi P mượn xe mô tô của bạn tên Mai nhà ở khu vực chợ Tân Phong, huyện Tân Biên đến đón bạn gái là Lê Thị Kim L, sinh năm 2000, ngụ ấp 3, xã Trà Vong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh chở đi chơi. Trên đường đi P và L bị té xe nên P thuê Phòng trọ số 5, nhà trọ Bảo Thy, thuộc ấp Gò Đá, xã Mỏ Công, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để nghỉ ngơi và P đã trả xe cho Mai. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã Mỏ Công, huyện Tân Biên tiến hành kiểm tra hành chính, bắt quả tang Nguyễn Hoàng P đang tàng trữ 04 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, trong đó 03 bịch (gồm 02 bịch nylon loại bóp miệng, 01 bịch nylon loại hàn kín) để trong gói thuốc lá hiệu Jet để trên đầu giường và 01 bịch nằm trên nền nhà.
* Kết quả trưng cầu giám định: Kết luận giám định số 973/KL-KTHS ngày 06 tháng 7 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 04 bịch nylon gồm 02 bịch nylon loại bóp miệng, 02 bịch loại hàn kín (kí hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 19,2965 gam. Hoàn lại sau giám định 18,3678 gam.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Thu của Nguyễn Hoàng P: 04 bịch nylon bên trong có chưa chất ma túy loại Methamphetamine gồm 02 bịch nylon loại bóp miệng, 02 bịch loại hàn kín; tiền Việt Nam 2.900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, số Imel: 867695054358477; 01 cân tiểu ly; 01 hộp quẹt ga.
* Kết quả kê biên tài sản: Bị cáo Nguyễn Hoàng P không đứng tên sở hữu tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
* Đối với Lê Thị Kim L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
* Đối với người tên “Đen” bán ma túy cho Nguyễn Hoàng P và đối với người tên “Nam” đã giúp sức cho bị cáo P mua ma túy do hiện nay chưa xác định được nhân thân, lý lịch, nên khi nào xác định được và có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại Bản cáo trạng số 103/CT -VKSTB ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự đề nghị:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P mức án từ 06 đến 07 năm tù;
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của bị cáo Nguyễn Hoàng P: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Hoàng P: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Vào lúc 23 giờ 30 phút, ngày 11/6/2021 tại Phòng trọ số 5, nhà trọ Bảo Thy, thuộc ấp Gò Đá, xã Mỏ Công, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Hoàng P đang có hành vi tàng trữ trái phép 04 bịch ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 19,2965 gam với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Mỏ Công, huyện Tân Biên kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo P tàng trữ ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 19,2965 gam nên bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do đó bản Cáo trạng số 103/CT -VKSTB ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, ma túy là loại chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm việc sản xuất, mua bán, vận chuyển tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo P đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, do đó phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo P được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân của bị cáo: Bị cáo P có 01 tiền sự “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” tuy nhiên khi đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính bị cáo đã bỏ trốn. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thể hiện ý thức xem thường pháp luật.
Hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn cách ly bị cáo P ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các tội phạm về ma túy và cũng để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn cũng đủ sức răn đe, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với bị cáo P.
* Đối với Lê Thị Kim L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
* Đối với người tên “Đen” bán ma túy cho Nguyễn Hoàng P và đối với người tên “Nam” đã giúp sức cho bị cáo P mua ma túy do hiện nay chưa xác định được nhân thân, lý lịch, nên khi nào xác định được và có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Xử lý vật chứng:
- Khối lượng 18,3678 gam chất ma túy loại Methamphetamine đựng trong bì thư được niêm phong, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và Trợ lý Nguyễn Thế An là số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án; 01 cân tiểu ly không còn giá trị sử dụng; 01 hộp quẹt ga là công cụ bị cáo P dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 2.900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, số Imel: 867695054358447, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tuyên trả cho bị cáo P, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2021.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Khối lượng 18,3678 gam chất ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại sau khi giám định, đựng trong bì thư được niêm phong, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và Trợ lý Nguyễn Thế An;
+ 01 cân tiểu ly; 01 hộp quẹt ga;
- Tiếp tục tạm giữ tiền Việt Nam 2.900.000 (hai triệu chín trăm nghìn) đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, số Imel: 867695054358447 của bị cáo Nguyễn Hoàng P để đảm bảo thi hành án;
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh).
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Nguyễn Hoàng P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Nguyễn Hoàng P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP. HCM; - PKTNV- TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Cơ quan THAHS; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Biên; - Chi cục THADS huyện Tân Biên; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án.(L) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Đặng Ngọc An |