- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lương Văn H và Lô Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2021/HS-ST Ngày 30/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mong Thái Dương và ông Nguyễn Minh Huế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Huyền Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà:
Ông Lương Hoài Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 97/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Lương Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/5/1985, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn H (Đã chết); con bà: Vi Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2021. Có mặt.
2. Lô Văn L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/10/1991, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Văn V; con bà: Lô Thị B (Đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2021. Có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L: Bà Nguyễn Thị Q, Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/6/2021 Lương Văn H rủ Lô Văn L góp tiền để đi mua ma túy về sử dụng và được Lợi đồng ý. H và L góp mỗi người 50.000 đồng và cùng nhau đi lên bản T, xã M, huyện Q mua ma túy với một người không quen biết. Mua được ma túy cả hai ra về thì bị bắt quả tang. Thu 01 gói chất bột màu trắng.
Bản kết luận giám định số 880/KL- PC09( Đ2-MT) ngày 10/6/2021 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn H và Lô Văn L gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn H và Lô Văn L gửi tới giám định có khối lượng 0,13 (Không phẩy mười ba) gam.
Tại phiên tòa các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Ngày 05/6/2021 Lương Văn H khởi xướng và cùng với Lô Văn L góp tiền đi mua ma túy về để sử dụng chung; H và L đi mua một gói ma túy, trên đường về thì bị bắt quả tang, thu 0,13 gam Heroine.
Cáo trạng số 107/CT-VKS- HS ngày 18/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho các bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên không có cơ sở để điều tra xử lý. Đối với anh Vi Văn Định có hành vi chở các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L, nhưng Định không biết các bị cáo có ma túy, nên hành vi không cấu thành tội phạm.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Lương Văn H và Lô Văn L, mỗi bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vỏ gói ma túy; miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt mỗi bị cáo 12 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 05/6/2021 tại bản T, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An, các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L đang cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu 0,13 gam Heroine. Các bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Đối với Lương Văn H là người khởi xướng vừa là người trực tiếp cất giấu ma túy, nên cần xét xử mức án cao hơn bị cáo Lô Văn L; đối với Lô Văn L là người góp tiền và cùng đi mua ma túy với Lương Văn H về để sử dụng chung. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội các bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L, mỗi bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù; người bào chữa đề nghị xử phạt các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L, mỗi bị cáo 12 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo và đề nghị của người bào chữa đối với bị cáo Lô Văn L là hợp lý. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn H 12 tháng tù là thấp vì bị cáo là người khởi xướng, trực tiếp mua và cất giấu ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 0,13 gam Heroine cơ quan điều tra lấy đi giám định chất ma túy hết, còn lại vỏ gói không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Lương Văn H và Lô Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Phạt Lương Văn H 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/6/2021.
Phạt Lô Văn L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/6/2021.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ một phong bì thư bưu điện bên trong đựng vỏ gói ma túy thu giữ của Lương Văn H và Lô Văn L; phong bì thu giữ vật chứng ban đầu.
Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 02/8/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Lương Văn H và Lô Văn L có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo. - VKSND huyện Q. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Q. - Chi cục THA DS huyện Q. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |