vanban.org

Bản án 110/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 28/07/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn anh Phạm Văn H. Về con chung: Giao con chung là Phạm Văn H1, sinh ngày 24/12/2011 cho chị Nguyễn Thị Thanh N nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Nhàn + Hùng"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2021/HNGĐ-ST
Ngày 28-7-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Ông Đỗ Xuân Quyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 58/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N, nơi cư trú: Thôn Đ, xã PL, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn H, nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: Thôn Đ, xã PL, huyện TN, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Lãnh thổ Đài Loan. Vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày:

Chị kết hôn với anh Phạm Văn H trên cơ sở tự nguyện của hai bên, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 16 tháng 3 năm 2011. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng khá hòa thuận, vui vẻ. Nhưng mấy năm về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách và quan niệm sống của vợ chồng không phù hợp với nhau, nên thường xuyên xẩy ra khắc khẩu, anh H1 không tin tưởng chị về mặt tình cảm dẫn đến có thái độ không tôn trọng chị và đề nghị ly hôn. Mặc dù, vợ chồng đã tìm cách thay đổi nhưng đều không có kết quả, dẫn đến việc cãi vã và không tin tường nhau xẩy ra trong thời gian dài, khiến không khí gia đình vô cùng căng thẳng, ảnh hưởng đến tâm sinh lý cũng như việc học hành của con chung. Năm 2017, anh H1 đi lao động tại Đài Loan và có về thăm gia đình vào năm 2019 sau đó lại tiếp tục sang Đài Loan lao động, thỉnh thoảng có gọi điện Zalo về cho con anh chị. Chị có đặt vấn đề ly hôn với anh H1 nhưng anh H1 không có ý kiến gì. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 11/2019 cho đến nay, không quan tâm đến nhau. Mặc dù mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Chị chỉ biết anh H1 đi sinh sống, lao động ở Đài Loan còn địa chỉ cụ thể ở đâu thì chị không rõ. Tuy nhiên, anh H1 vẫn liên lạc với người thân trong gia đình anh là bà Nguyễn Thị T, địa chỉ: Thôn Đông, xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (mẹ đẻ anh H1). Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh H1 để chị nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Phạm Văn H1, sinh ngày 24/12/2011. Hiện nay, cháu đang ở chị. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh H1, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, chị xin tự giải quyết với anh H1 về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phạm Văn H:

Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cho mẹ đẻ anh là bà Nguyễn Thị T. Tòa án đã 2 lần thông báo cho bà Thơ cung cấp địa chỉ của anh H1 ở Lãnh thổ Đài Loan và yêu cầu bà cho biết kết quả về việc bà đã thông báo cho anh H1 để gửi lời khai về Tòa án chưa. Lời khai của bà Nguyễn Thị T thể hiện: Anh H1 vẫn thường xuyên liên lạc với bà Thơ nhưng bà Thơ không biết địa chỉ cụ thể anh H1 ở Lãnh thổ Đài Loan. Anh H1 biết việc chị N xin ly hôn, anh H1 chưa gửi ý kiến về cho Tòa án. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được gia đình hòa giải song không đạt kết quả. Hiện nay, con chung của anh chị đang ở với chị N. Nếu Tòa án cho anh H1 và chị N ly hôn thì nguyện vọng của gia đình bà để cho anh H1 nuôi con chung.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Phạm Văn H đều vắng mặt và chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xin vắng mặt của chị N thể hiện chị vẫn giữ nguyên lời khai như tại bản tự khai và tại phiên họp công khai chứng cứ.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đa chấp hành đúng cã

́c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự; nguyên đơn đa thực hiện đũ

́ng các quyền và nghia vu ̣, tham gia phiêñ tòa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự ; bị đơn Phạm Văn H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Phạm Văn H xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 16 tháng 3 năm 2011 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh N. Về con chung: Giao con chung là Phạm Văn H1, sinh ngày 24/12/2011 cho chị Nguyễn Thị Thanh N nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị N xin tự giải quyết với anh H1 nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung: Chị N xin tự giải quyết với anh H1, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của đương sự tại phiên tòa, xét thấy:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn. Bị đơn anh Phạm Văn H hiện đang sinh sống ở nước ngoài (Lãnh thổ Đài Loan), nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh N sinh sống tại thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Phạm Văn H đều vắng mặt, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Phạm Văn H: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Phạm Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Phạm Văn H xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 16 tháng 3 năm 2011 theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được mấy năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xẩy ra cãi nhau. Mặt khác, chính sự xa cách về địa lý nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị N và con chung đã trở về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau gần 3 năm. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải song không đạt kết quả. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị N và anh H1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhâ ̣n đề nghi ̣ ly hôn của chị N.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Phạm Văn H có một con chung là: Phạm Văn H1, sinh ngày 24/12/2011. Xét thấy: Mặc dù gia đình anh H1 có đề nghị để anh H1 được nuôi dưỡng con chung, tuy nhiên hiện nay anh H1 đang ở nước ngoài, cháu Huy còn nhỏ và cháu đang ở với chị N. Mặt khác, chị N đề nghị được nuôi dưỡng cháu Huy, cháu Huy cũng có nguyện vọng ở với chị N. Chính vì vậy cần giao con chung cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, chị xin tự giải quyết với anh Phạm Văn H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh N là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Phạm Văn H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn anh Phạm Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung là Phạm Văn H1, sinh ngày 24/12/2011 cho chị Nguyễn Thị Thanh N nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh N không yêu cầu giải quyết, chị xin tự giải quyết với anh Phạm Văn H nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, chị xin tự giải quyết với anh Phạm Văn H nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghin đồng) án phí dân sự sơ thẩm . Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng

̀ án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghin đồng ) theo Biên lai số

̀ 0018891 ngày 05 tháng 5 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Thanh N đa nô ̣̃ p đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thanh N (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Phạm Văn H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ