- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đinh Công T 20 (hai mươi) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2019/HS-ST Ngày 20 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Huy Hiệp
Thẩm phán: Ông Cầm Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Chinh, bà Nguyễn Thị Kim Thanh, ông Nguyễn Hồng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188 /2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Đinh Công T; tên gọi khác: không. Sinh năm 1982 tại: huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Bản T1, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Trồng trọt.Trình độ văn hóa: 01/12. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không. Con ông: Đinh Công T2 và bà Ngần Thị T3, có vợ là Phạm Thị N và có 02 con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La đến nay, có mặt tại hiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh Hùng, là Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sơn La, có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thị N, sinh năm 1985, nơi cư trú: Bản T1, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, có mặt,
- Bà Ngân Thị Thặn (Thanh) sinh năm 1960, nơi cư trú; Bản T1, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 05/06/2019 tại nhà ở của Hà Văn B tại bản Th, xã X, huyện V, Công an huyện Vân Hồ và Ban Công an xã Xuân Nha đã phát hiện bắt quả tang Đinh Công T trú tại bản T, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 10 túi nilon bên trong chứa các viên nén màu hồng (T khai số ma túy trên là hồng phiến của T đang đem đi bán), ngoài ra còn tạm giữ 01 điện thoại di động; 01 xe máy nhãn hiệu HONDA BKS 36H5 -07.946 và 400.000 đồng.
Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Công T tại bản T, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, đã phát hiện thu giữ trên nóc tủ đựng đồ của gia đình T 01 khẩu súng tự chế bằng kim loại, báng bằng gỗ; thu giữ trong két sắt 01 sổ tiết kiệm mang tên Phạm Thị N (trong sổ tiết kiệm có 200.000.000 đồng); số tiền 129.900.000 đồng; 01 giấy chứng nhận đăng ký ô tô, xe máy mang tên Đinh Công T; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO.
Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng, xác định 10 túi ni lon bên trong chứa 1.972 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 198,43 gam, đồng thời trích mẫu trưng cầu giám định. Kết luận giám định là mà túy, loại chất Methamphetamine.
Kết luận giám định đối với khẩu súng không phải là súng quân dụng, là súng săn, tên súng: không xác định được. Súng vẫn còn sử dụng để bắn được.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận.
Khoảng 14 giờ ngày 04/6/2019 T đang ở nhà thì nhận được cuộc điện thoại của Hà Văn B (người quen của T, trú tại bản Th, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La) B nói đang ở ngã ba K thuộc bản T, xã T, huyện Q và bảo T ra gặp, T điều khiển xe máy đến ngã ba K thì thấy B đi xe máy cùng một người đàn ông không quen biết B giới thiệu tên là Tuấn. B và Tuấn đặt vấn đề hỏi mua hồng phiến, T nói không có và hứa sẽ tìm mua khi nào có sẽ báo lại.
Sau khi gặp B, Tuấn, T gọi điện cho một người đàn ông dân tộc Mông tên là Tủa ở bản L, xã T, huyện Vân Hồ (T quen từ trước) hỏi mua hồng phiến, Tủa nói có 10 gói hồng phiến và hẹn hôm sau mới giao, T nhất trí. Sau đó T gọi điện cho B thông báo ngày 05/6/2019 sẽ có 10 túi hồng phiến T sẽ mang đến nhà B bán, B đồng ý.
Khoảng 08 giờ ngày 05/6/2019 T đến gặp Tủa và mua 10 túi hồng phiến với giá 28.000.000 đồng, T trả trước 10.000.000 đồng còn 18.000.000 đồng T nợ khi nào bán được hồng phiến sẽ trả sau, Tủa đồng ý. Sau đó T mang số hồng phiến vừa mua được đến khu vực ngã ba xã X thì gặp B đang đứng đợi, B đưa T về nhà gặp Tuấn còn B đi ra ngoài lấy nước uống, khi chỉ còn lại T và Tuấn thì T lấy 10 túi hồng phiến đặt trên gường ngủ gia đình nhà B cho Tuấn xem thì bị tổ công tác Công an đến kiểm tra Tuấn đã bỏ chạy thoát, còn T bị bắt quả tang cùng 10 túi hồng phiến.
Tại Cáo trạng số 94/CT-VKS - P1 ngày 05/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Đinh Công T về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Công T nhất trí với tội danh như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu bị cao đề nghị được trả lại chiếc xe máy và sổ tiết kiệm có số tiền 200 triệu đồng, ngoài ra bị cáo không khai báo gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị N khai quá trình khám xét nơi ở của vợ chồng chị và bị cáo cơ quan Công an có thu giữ 01 sổ tiết kiệm có 200 triệu đồng, số tiền trong sổ tiết kiệm là tiền của gia đình chị được Nhà nước bồi thường khi làm thủy điện T, chị N đề nghị trả lại sổ tiết kiệm trên; đối với khẩu súng bị thu giữ là của ông nội để lại; ngoài ra cơ quan Công an còn thu giữ số tiền 129.900.000đ trong két của gia đình chị, số tiền trên là của mẹ chồng là bà Ngân Thị T3 gửi. Đối với chiếc xe máy do T sử dụng và bị thu giữ, đây là tài sản chung phục vụ sinh hoạt của gia đình, chị N xin được trả lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Ngân Thị T3 khai: Gia đình bà và gia đình bị cáo Trong trước đây ở riêng, sau khi xây dựng thủy điện Tgia đình bà đã phải di dời và được Nhà nước bồi thường tiền để tái định cư, sau đó vợ chồng bà về ở cùng với gia đình bị cáo, số tiền 129.900.000đ thu trong két của gia đình bị cáo là tiền của bà gửi, nguồn gốc số tiền trên là tiền bồi thường khi xây dựng thủy điện Tbà đã gửi tiết kiệm tại Ngân hàng AGRIBANK chi nhánh huyện Q, đến ngày 28/5/2019 bà có rút về để tổ chức cưới cho con, số còn lại bà gửi trong két của vợ chồng bị cáo và bị thu giữ. Hiện nay bà T3 đã được trả lại đủ số tiền trên nên không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo như Cáo trạng đã quy kết và đề nghị:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Công T 20 (hai mươi) năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2019; Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại, que thử ma túy của bị cáo trong, 01 khẩu súng săn; tịch thu sung ngân sách 02 chiếc điện thoại của bị cáo; tạm giữ số tiền 400.000đ của bị cáo để đảm bảo thi hành án; trả lại cho gia đình bị cáo 01 sổ tiết kiệm và 01 chiếc xe máy.
Quan điểm của luật sư Đàm Mạnh Hùng bào chữa cho bị cáo Đinh Công T nhất trí với tội danh, Điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, sau khi bị bắt và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là dân tộc thiểu số không biết chữ sống ở vùng sâu nên am hiểu pháp luật còn hạn chế, bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương và bằng khen của Bộ quốc phòng, có ông nội là liệt sỹ. Luật sư đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.
Bị cáo Đinh Công T nhất trí với ý kiến bào chữa của Luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét lời khai phạm tội của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát, đã thể hiện: Do hám lời nên sáng ngày 05/6/2019 Đinh Công T đã đi mua được 10 túi hồng phiến mục đích để bán kiếm lời. Đến 13 giờ 30 phút sáng cùng ngày, trong khi T đang thực hiện hành vi giao dịch mua bán trái phép chất ma túy tại nhà của Hà Văn B ở bản Th, xã X, huyện V thì bị bắt quả tang và thu giữ số Hồng phiến có khối lượng 198,43 gam.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 05/06/2019 do Công an huyện Vân Hồ lập đối với Đinh Công T cùng với vật chứng thu giữ: 10 túi nilon bên trong chứa các viên nén màu hồng (T khai là hồng phiến) và một số đồ vật tài sản khác liên quan.
- Biên bản khám xét của Công an huyện Vân Hồ lập ngày 05/6/2019 đối với nơi ở của Đinh Công T tại bản T, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và đã thu giữ cáo đồ vật gồm: 01 khẩu súng tự chế bằng kim loại, báng bằng gỗ; thu giữ trong két sắt 01 sổ tiết kiệm mang tên Nguyễn Thị N (trong sổ tiết kiệm có 200.000.000 đồng); 129.900.000 đồng; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Đinh Công T; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO.
- Biên bản mở niêm phong, kiểm đếm số lượng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định do Công an huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La lập ngày 05/6/2019 đã xác định: 10 túi ni lon bên trong chứa 1.972 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 198,43 gam, trích trong mỗi gói lấy 05 viên màu hồng có khối lượng 5,03 gam làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu từ T đến T18.
- Kết luận giám định số 1039/KLMT ngày 10/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu T, T2, T4, T6, T8, T10, T12, T14, T16, T18 là chất ma túy; loại chất Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 5,03 gam.
Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 198,43 gam; loại chất Methamphetamine.
- Kết luận giám định số 1083 ngày 14/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Khẩu súng gửi giám định không phải là súng quân dụng, là súng săn, tên súng: không xác định được. Súng vẫn còn sử dụng để bắn được”.
Lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt quả tang đối với bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong vụ án.
Từ các căn cứ như đã nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Công T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015
Khung hình phạt áp dụng:
Bị cáo Đinh Công T đã có hành vi mua bán trái phép 1.972 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 198,43 gam vi phạm tiết định khung “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMT hoặc XLR-11 có khối lượng từ 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù hai mươi lăm, tù chung thân hoặc tử hình.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy có khối lượng tương đối lớn, mức độ nguy hại cho xã hội cao và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tai, tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội, nên cần xử nghiêm.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đinh Công T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương và bằng khen của Bộ quốc phòng, có ông nội là liệt sỹ, bản thân bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu hiểu biết pháp luật hạn chế, do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình: xét thấy bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thu nhập chủ yếu từ trồng trọt hàng năm chỉ đủ sinh hoạt gia đình, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 193,40 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã giám định, 01 que thử ma túy đối với bị cáo, xét thấy là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành và que thử ma túy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 khẩu súng bằng kim loại, kích thước 1,2m thu giữ khi khám xét nơi ở của Đinh Công T là của ông nội bị cáo (đã chết) để lại và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, khẩu súng trên không phải súng quân dụng nhưng xét là loại vũ khí nguy hiểm có khả năng gây sát thương, gây nguy hại cho tính mặng, sức khỏe của con người và Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA vỏ màu xanh đen và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, bị cáo thừa nhận dùng để liên lạc mua bán ma túy, xét đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAWE α màu sơn đỏ, biển kiểm soát 36N5-097.46 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy thu giữ khi bắt quả tang Đinh Công T. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe máy trên là tài sản phương tiện sử dụng chung trong gia đình bị cáo, việc bị cáo đã sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội gia đình không biết, nên cần tạo điều kiện trả lại cho gia đình bị cáo.
- Đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định số tiền trên không phải tiền do phạm tội mà có nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với số tiền 129.900.000đồng( Một trăm hai mươi chín triệu, chín trăm ngàn đồng) thu giữ khi khám xét nơi ở của bị cáo Đinh Công T. Quá trình điều tra xác định số tiền trên là của bà Ngân Thị T3 mẹ đẻ của Đinh Công T gửi, kết quả điều tra nguồn gốc số tiền trên do bà T3 được Nhà nước chi trả bồi thường hỗ trợ khi xây dựng nhà máy thủy điện Thuyện Q (thể hiện tại sổ theo dõi chi trả bồi thường, hỗ trợ cho cá nhân bị ảnh hưởng do xây dựng Thủy điện T- BL từ 238 đến 243) và chứng từ giao dịch rút tiền với Ngân hàng của bà Ngân Thị T3 ngày 28/5/2019 với số tiền 330.063.300đ (BL 244), số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La đã trả lại cho bà Ngân Thị T3 là có căn cứ đúng chủ sở hữu, hiện nay bà T3 không có đề nghị gì, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 sổ tiết kiệm số AC 0015174676 mang tên Phạm Thị N (vợ bị cáo) trong sổ có 200.000.000đồng (hai trăm triệu đồng). Quá trình điều tra xác định số tiền trong sổ tiết kiệm là của vợ chồng bị cáo được Nhà nước đền khi xây dựng nhà máy Thủy điện Tđể tái định cư (thể hiện tại các Biên bản thanh toán tiền đền bù hỗ trợ của Công ty TNHH MTV Thủy điện Tcho hộ gia đình Đinh Công T, BL 112 đến 208), xét số tiền trong số tiết kiệm trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên trả lại cho gia đình bị cáo sổ tiết kiệm nêu trên.
Đối với các đối tượng khác liên quan đến vụ án.
- Đối với Hà Văn B, sinh năm 1984 trú tại bản T, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La, tại thời điểm Đinh Công T bị bắt quả tang B không có mặt ở nhà. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã triệu tập Hà Văn B để lấy lời khai và đối chất với bị cáo T. Kết quả B thừa nhận được cùng Tuấn (nhà ở Hải Phòng nhưng không biết địa chỉ cụ thể) đến nhà T để hỏi mua Trâu về làm Trâu chọi, B không thừa nhận có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy (tại phiên tòa T cũng khai khi T và Tuấn đang lấy ma túy ra xem thì T bị bắt quả tang nhưng B không có mặt ở đó), do đó ngoài lời khai của Đinh Công T không còn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý đối với Hà Văn B.
- Đối với người đàn ông tên Tuấn ở Hải Phòng (người mua hồng phiến), Đinh Công T và Hà Văn B đều khai không biết địa chỉ cụ thể ở đâu. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên là Tủa ở khu vực bản L xã T, huyện V, tỉnh Sơn La, theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định tại khu vực bản Láy và bản B, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La, có 02 đối tượng là Mùa A Tủa, sinh năm 1971 và Sồng A Tủa, sinh năm 1976 có đặc điểm tương đối phù hợp với lời khai của bị cáo. Cơ quan điều tra cho bị cáo nhận dạng, kết quả bị cáo T không nhận dạng được người tên Tủa đã bán ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào để Cơ quan điều tra xác minh làm rõ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015: Tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Đinh Công T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05/06/2019).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì do Công an huyện Vân Hồ phát hành, đã được niêm phong, bên trong đựng 193,40 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì do Bưu điện phát hành đã được niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Đinh Công T; 01 khẩu súng bằng kim loại, kích thước 1,2m báng bằng gỗ màu đen, trên thân súng có quai đeo màu nâu, súng đã qua sử dụng (thu giữ của Đinh Công T).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO cùng hai thẻ sim có số thuê bao 0343434429 và 0352872900 được đựng trong một phong bì do Công an huyện Vân Hồ phát hành, đã được niêm phong; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu xanh đen đã qua sử dụng cùng 01 sim Viettel có số thuê bao 0387301573 cùng vỏ gói niêm phong ban đầu, được đựng trong một phong bì do Công an huyện Vân Hồ phát hành đã được niêm phong (thu giữ của Đinh Công T).
- Tạm giữ: số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) được đựng trong một phong bì do Công an huyện Vân Hồ phát hành đã được niêm phong thu giữ của Đinh Công T, để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho gia đình bị báo do chị Phạm Thị N làm đại diện: 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại xe Wave α màu đỏ - đen - bạc, xe có biển kiểm soát 36H5 - 079.46, xe có số khung RLHA 3907HJ635896, số máy JA39E0611059, xe có 1 gương chiếu hậu, không có chìa khóa xe; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy có số 004875 mang tên Đinh Công T, có biển số 36H5 - 079.46, do Công an huyện Q cấp ngày 12/7/2018; 01 Sổ tiết kiệm có kỳ hạn có số AC00015174676 của Ngân hàng AGRIBANK chi nhánh huyện Q phát hành ngày 02/5/2019, mang tên Phạm Thị N (đều thu giữ của Đinh Công T).
(Tên, số lượng, khối lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng tài sản, chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của vụ án ngày 05/11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La với Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đinh Công T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/11/2019)
| Nơi nhận: - TAND cấp Cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La, - Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La, - Phòng PC04-Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác; - Phòng KTNV- THA; - Lưu HS-AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Huy Hiệp |