- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Vũ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2019/HSST Ngày: 28-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hợp;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Năm;
Ông Nguyễn Việt Thắng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Hường là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông D Việt Khái - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Ngô Vũ D; tên gọi khác: Không; sinh năm 1996 tại: tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm 4, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Minh T, không xác định được lai lịch của mẹ; có vợ là Nguyễn Thị Diễm M và 02 con (nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác; có mặt.
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Khóm 1, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp 1/5, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lâm Xi P, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Trường M – sinh năm 1987. Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 21/8/2019 Ngô Vũ D đi bộ đến tiệm game Trường Minh thuộc khóm 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau để chơi game. Khoảng 7 giờ cùng ngày, D nghỉ chơi game và đi ra phía trước phòng game thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Future màu xám, biển kiểm soát 69K2-4525 của Nguyễn Đức T đang đậu phía trước tiệm game có gắn sẵn chìa khóa trên xe. D nảy sinh ý định lấy trộm xe của T để sử dụng nên lén lút lên xe mở khóa điều khiển xe về xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời.
Ngoài ra quá trình điều tra Ngô Vũ D còn khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 22/8/2019, Ngô Vũ D điều khiển xe mô tô hiệu Future màu xám, biển kiểm soát 69K2-4525 đi đến nhà của Nguyễn Ngọc K ở ấp 1/5, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau chơi. Đến khoảng 7 giờ ngày 23/8/2019, lợi dụng anh K đi ra phía sau nhà nên D lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Realme C2 màu xanh bên trong có 01 sim Viettel số 0366721934 và 01 sim Vinaphone số 0852996308 của Khoa rồi điều khiển xe bỏ đi. D khai nhận sau khi trộm được điện thoại nêu trên đem bán cho Lâm Xi P thuộc ấp Minh Hà B, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời thu giữ 01 xe mô tô hiệu Future, biển kiểm soát 69K2-4525, hiện đã trao trả lại cho bị hại.
Theo kết luận định giá số 46 ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng định giá thuộc UBND huyện Trần Văn Thời, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Future màu xám, biển kiểm soát 69K2-4525 trị giá 9.107.000 đồng. Kết luận định giá số 52 ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Hội đồng định giá thuộc UBND huyện Trần Văn Thời, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Realme C2 màu xanh trị giá 3.090.000 đồng; 01 sim Viettel số 0366721934 trị giá 8.500 đồng; 01 sim Vinaphone số 0852996308 trị giá 8.500 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 12.214.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 107/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Ngô Vũ D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Vũ D từ 09 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Về phần dân sự, đề nghị áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc K 3.107.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Ngô Vũ D chưa khắc phục hậu quả. Bị hại Nguyễn Đức T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu trách nhiệm dân sự. Bị hại Nguyễn Ngọc K yêu cầu bị cáo D bồi thường thiệt hại theo định giá tài sản với số tiền 3.107.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, các bị hại yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Vũ D thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngoài ra, Lâm Xi P không thừa nhận có mua điện thoại của Ngô Vũ D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời tách ra tiếp tục điều tra. Đối với 01 điện thoại di động hiệu R9S màu đen bạc là tang vật liên quan đến 01 vụ án khác (lừa đảo chiếm đoạt tài sản) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời không đề cặp xử lý trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trần Văn Thời, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, kết luận định giá tài sản cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 07 giờ ngày 21 tháng 8 năm 2019 tại tiệm game Trường Minh, lợi dụng sơ hở của ông Nguyễn Đức T, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Future màu xám, biển kiểm soát 69K2-4525 trị giá 9.107.000 đồng của ông T. Ngoài ra, khoảng 7 giờ ngày 23/8/2019, Ngô Vũ D lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Realme C2 màu xanh trị giá 3.090.000 đồng; 01 sim Viettel số 0366721934 trị giá 8.500 đồng; 01 sim Vinaphone số 0852996308 trị giá 8.500 đồng của anh Nguyễn Ngọc K. Tổng giá trị tài sản của 02 lần trộm là 12.214.000 đồng. Mục đích Ngô Vũ D trộm cắp tài sản là để sử dụng và bán chi xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của các bị hại, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo trên 18 tuổi và đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố bị cáo D theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện 02 lần phạm tội nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Ngô Vũ D là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của mình gây ra, nhưng do động cơ tư lợi cá nhân, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Đây là dạng tội, ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo không có thu nhập, nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Nguyễn Ngọc K, theo kết luận định giá số 52 ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Hội đồng định giá thuộc UBND huyện Trần Văn Thời, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của ông K là 3.107.000 đồng. Do đó áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự cần buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho ông K với số tiền 3.107.000 đồng. Ông Nguyễn Đức T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời thu giữ 01 xe mô tô hiệu Future, biển kiểm soát 69K2-4525 của ông Nguyễn Đức T nhưng đã trao trả cho ông T là đúng với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 01 điện thoại di động hiệu R9S màu đen bạc là tang vật liên quan đến 01 vụ án khác (lừa đảo chiếm đoạt tài sản) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời không đề cầp xử lý trong vụ án này là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xét.
Ngô Vũ D khai nhận sau khi trộm được điện thoại di động hiệu Realme C2 màu xanh của Nguyễn Ngọc K bán cho Lâm Xi P. Tuy nhiên, Lâm Xi P không thừa nhận vấn đề này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời tách ra tiếp tục điều tra là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Ngô Vũ D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 48; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Vũ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Ngô Vũ D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc K 3.107.000 (ba triệu một trăm lẻ bảy nghìn) đồng;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Bị cáo Ngô Vũ D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án ,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - VKSND tỉnh Cà Mau; - CQ CSĐT Công an H. Trần Văn Thời; - CC THADS huyện Trần Văn Thời; - Phòng KTNV&THA tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Hợp |