vanban.org

Bản án 110/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội Tuyên án 14/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Từ Thị O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Áp dụng điểm o Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Từ Thị O 07 (Bẩy) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 12/8/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Từ Thị O - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Từ Thị O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 110/2019/HS-ST
Ngày: 14/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Trung Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Nhàn

Ông Đàm Viết Khai

- Thư ký phiên tòa:

Bà Vũ Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa:

Ông Trần Đình Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2019/TLST-HS, ngày 28 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

Từ Thị O, sinh năm 1983; Nơi sinh: H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại: Xóm 4, thôn P, xã L, huyện T, TP. H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Từ Văn Đ và bà Hoàng Thị U; Có chồng là Nguyễn Văn D (đã chết) và một con sinh năm 2001; Tiền án: Ngày 28/3/2012, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/3/2013; Ngày 28/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2017; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 13/4/2004, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 25/01/2006, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 02/5/2007, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 20/7/2009, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Néi dung vô ¸n:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 12/8/2019, Từ Thị O đi xe mô tô biển kiểm soát 89K4-7779 từ nhà khu vực chân cầu vượt K thuộc xã H, huyện T, H để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, O đã gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi và mua của người này 01 gói ma túy heroine với giá 500.000 đồng. Sau đó, O đi đến đường N thuộc tổ dân phố N, Thị trấn T thì bị tổ công tác của Đồn Công an Thị trấn kiểm tra hành chính và thu giữ tại túi quần bên phải phía sau của Oanh 01 gói nilon diện 3x4cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, O khai là ma túy, loại heroine và 01 xe mô tô biển kiểm soát 89k4-7779.

Tại bản kết luận định giám định số 5244/KLGĐ-PC09 ngày 18/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an Thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 2,131 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 106/CT-VKS ngày 24/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo Từ Thị O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố và kết luận như Cáo trạng truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Từ Thị O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm o Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt Từ Thị O từ 06 năm đến 07 năm tù.

Về tang vật của vụ án: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong là ma túy thu giữ của Từ Thị O;

Trả lại bị cáo Từ Thị O xe mô tô có số khung RLCN2B5607Y027941, số máy 2B56-027941.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra – Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2]. Tại phiên tòa, bị cáo Từ Thị O khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện ngày 12/8/2019, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 12/8/2019, tại khu vực Thị Trấn T, huyện T, Thành phố H, Công an Thị Trấn T bắt quả tang Từ Thị O cất giấu trong người 01 gói nilon bên trong chứa chất bột màu trắng, O khai là ma túy vừa mua để sử dụng. Phòng kỹ thuật hình sự - công an Thành phố H đã giám định và kết luận chất bột màu trắng trong 01 gói nilon là ma tuý loại Heroine, khối lượng 2,131 gam.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý chất ma túy, chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội và các bệnh xã hội, lần phạm tội này đối với bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, lần phạm tội này đối với bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần thiết phải phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

5]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

6]. Về xử lý tang vật của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong là ma túy thu giữ của Từ Thị O, bên ngoài có chữ ký của giám định viên phòng PC09 – Công an Thành phố H, cán bộ Công an huyện T và Từ Thị O; 01 biển kiểm soát 01 biển kiểm soát 89K4-7779;

Trả lại bị cáo Từ Thị O xe mô tô có số khung RLCN2B5607Y027941, số máy 2B56-027941.

7]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Từ Thị O, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa làm rõ được là ai nên không đề cập xử lý trong vụ án này mà tách ra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Từ Thị O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm o Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Từ Thị O 07 (Bẩy) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 12/8/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong là ma túy thu giữ của Từ Thị O, bên ngoài có chữ ký của giám định viên phòng PC09, cán bộ niêm phong và Từ Thị O; 01 biển kiểm soát 01 biển kiểm soát 89K4-7779;

Trả lại bị cáo Từ Thị O xe mô tô nhãn hiệu NOUVO, màu trắng đen có số khung RLCN2B5607Y027941, số máy 2B56-027941. (Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Từ Thị O phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ