vanban.org

Bản án 110/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “Tuyên bố: Nguyễn Quốc H

phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 110/2018/HSST Tuyên án 20/06/2018
Phúc thẩm Bản án 359/2018/HS-PT Tuyên án 29/08/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “Tuyên bố: Nguyễn Quốc H
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2018/HSST
Ngày: 20/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Mỹ Hạnh

2. Bà Võ Anh Thư

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Kim Kỳ Anh - Kiểm sát

viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.

Ngày 20 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ thẩm

công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2018

theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 475/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5

năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc H, sinh ngày 30 tháng 8 năm 1984, tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ

khẩu thường trú: Phố Mới, thôn Vĩnh Phệ, xã X, huyện Y, thành phố Hà Nội; chỗ ở:

Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc:

Kinh; con ông Nguyễn Công T và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ Nguyễn Thị T và có 02

con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự:

Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/12/2017 tại nhà tạm giữ Công an Quận

1. (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Ngô Dạ H, sinh năm: 1999

Chỗ ở: Số 125/4/34 Vạn Kiếp, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thúy L, sinh năm: 1997

Chỗ ở: Số 125/4/34 Vạn Kiếp, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Bà Huỳnh Thị Ánh L, sinh năm: 1994

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Bình Khánh, xã X, quận Y, thành phố

Cần Thơ. (vắng mặt)

- Ông Nguyễn Minh K, sinh năm: 1987

Chỗ ở: Số 704/61 Hương Lộ 2, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Ông Trần Hợp P, sinh năm: 1986

Chỗ ở: Số 15 Đường 65, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng

mặt)

- Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm: 1994

Chỗ ở: Số 391/51/6 đường Sư Vạn Hạnh, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ

Chí Minh. (vắng mặt)

- Bà Lê Ngọc L, sinh năm: 1997

Chỗ ở: Số 80/4 đường Lũy Bán Bích, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí

Minh. (vắng mặt)

- Ông Nguyễn Duy L, sinh năm: 1992

Chỗ ở: Số 32/15/2A Đường số 23, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí

Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 25 phút ngày 02/12/2017, Phòng Cảnh sát hình sự Công an

Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Công an Quận 1, Công an phường Phạm Ngũ Lão kiểm tra hành chính quán bar 212 tại số 212 đường Nguyễn Trãi, Phường X, quận Y. Tại đây Nguyễn Quốc H cùng 08 người bạn gồm Ngô Dạ H, Nguyễn Thúy L, Huỳnh Thị Ánh L, Nguyễn Minh K, Trần Hợp P, Nguyễn Hoàng P, Lê Ngọc L, Nguyễn Duy L ngồi chơi ở bàn Vip 4. Qua kiểm tra tại bàn Vip 4 phát hiện Nguyễn Quốc H đang cất giữ trong túi quần bên trái phía trước 01 gói nylon bên trong có chứa 01 viên nén màu vàng, một nửa viên nén màu hồng; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và chất bột màu xanh, Nguyễn Quốc H khai là ma túy tổng hợp để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, còn phát hiện dưới ghế cạnh bàn Vip 4 01 gói nylon bên trong có nửa viên màu vàng, 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nên tiến hành thu giữ vật chứng và lập biên bản xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc H khai nhận: Ma túy trên Nguyễn Quốc

H mua của một thanh niên không rõ lai lịch trước quán Bar với giá 2.200.000 đồng, mục đích mang vào quán Bar để cùng bạn sử dụng, trước đó đã sử dụng một ít, còn lại cất vào túi quần thì phát hiện bắt giữ như trên.

Theo bản kết luận giám định số: 69/KLGĐ-H ngày 29/12/2017 của Phòng

Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói được niêm

phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Quốc H và hình dấu Công an Phường

Phạm Ngũ Lão, Quận 1 gửi đến giám định bên trong có:

- 01 gói nylon chứa:

+ 01 viên nén màu vàng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3610g (không

phẩy ba sáu một không gam), loại MDMA.

+ Nửa viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1992g (không

phẩy một chín chín hai gam), loại MDMA.

+ Chất bột màu xanh, có khối lượng 0,5542g (không phẩy năm năm bốn hai

gam) không tìm thấy ma túy.

- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng

0,8479g (không phẩy tám bốn bảy chín gam), loại Ketamine.

Bản cáo trạng số: 92/CTr-VKS ngày 14/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân

Quận 1 đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

theo điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh

tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác

của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội

dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ

sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã

phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật

hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, khoản 1 Điều 249; điểm s,

khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù

đến 02 (hai) năm tù, áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 70/18 có chữ ký ghi tên

Đại úy Nguyễn Xuân Svà Đặng Hữu L bên trong có 0,5602g, loại MDMA;

0,8479g, loại Ketamine và 0,5542g không tìm thấy ma túy (mẫu vật còn lại sau khi

sử dụng phục vụ công tác giám định).

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu

xanh;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo

màu hồng và số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng), nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) chứng minh nhân dân tên

Nguyễn Quốc H, số:111818358; 01 (một) giấy phép lái xe tên Nguyễn Quốc H số: AB 400477.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Quốc H đã khai nhận hành vi phạm

tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với

lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tường trình, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định,… nên có căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Quốc H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, với khối lượng là 0,5602g ma túy ở thể rắn, loại MDMA và 0,8479g ma túy ở thể rắn, loại Ketamine. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Quốc Hương đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều

tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết

tâm cao. Bị cáo đủ nhận thức để biết rất rõ về tác hại của ma túy nhưng vì muốn thỏa mãn với động cơ cá nhân của mình nên bất chấp xem thường pháp luật của Nhà nước cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên

tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự

quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000

đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01

năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị

áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội

của bị cáo. Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp một khoản tiền nhất định để sung

quỹ Nhà nước.

Đối với Ngô Dạ H, Nguyễn Thúy Loan, Huỳnh Thị Ánh Lên, Nguyễn

Minh Kha, Trần Hợp Phúc, Nguyễn Hoàng P, Lê Ngọc L, Nguyễn Duy L, khai do

không biết Nguyễn Quốc H mua và tàng trữ ma túy. Xét, lời khai của các ông bà

trên là phù hợp với lời khai của Nguyễn Quốc H nên không có cơ sở xác định là

đồng phạm trong vụ án.

Đối với người thanh niên là người bán ma túy cho Nguyễn Quốc H, cơ quan

điều tra tiếp tục xác minh làm rõ có cơ sở xử lý sau.

Đối với số ma túy tổng hợp thu giữ dưới ghế cạnh bàn Vip 4, gồm 01 gói

nylon chứa 03 nửa viên nén màu vàng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6983g,

loại MDMA và 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9482g, loại

Ketamine, Nguyễn Quốc H không thừa nhận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách

thành một vụ án khác tiếp tục điều tra có cơ sở xử lý sau.

Vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 70/18 có chữ ký ghi tên Đại úy

Nguyễn Xuân S và Đặng Hữu L bên trong có 0,5602g, loại MDMA; 0,8479g, loại

Ketamine và 0,5542g không tìm thấy ma túy (mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục

vụ công tác giám định) cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh số Imei 1:

354898081790940, Imei 2: 354898081790957 bị cáo Nguyễn Quốc H sử dụng để

liên lạc trong việc mua ma túy cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng và số tiền

2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng), thu giữ của Nguyễn Quốc H, xét

thấy không liên quan đến vụ án cho nên cần xem xét trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp

tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.

- Đối với 01 (một) chứng minh nhân dân tên Nguyễn Quốc H, số:111818358;

01 (một) giấy phép lái xe tên Nguyễn Quốc Hương số: AB 400477 thu giữ của Nguyễn Quốc H, xét thấy không liên quan đến vụ án cho nên cần xem xét để trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2

Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “Tuyên bố: Nguyễn Quốc H

phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i, khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều

38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2017.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải nộp phạt 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)

để sung vào công quỹ Nhà nước.

Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện một lần ngay sau

khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 70/18 có chữ ký ghi

tên Đại úy Nguyễn Xuân S và Đặng Hữu L chứa chất ma túy (mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ công tác giám định).

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 83/18/PNK ngày 25/01/2018 của Công

an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu

xanh số Imei 1: 354898081790940, Imei 2: 354898081790957.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo

màu hồng và số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng), nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) chứng minh nhân dân tên

Nguyễn Quốc H, số:111818358; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Quốc H số: AB 400477

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 22/18/PNK ngày 11/12/2017 của Công

an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa

đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Quốc H phải chịu án phí hình

sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi

hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn thi

hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người

được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải thi hành

án, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn do

Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy

định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định

được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được

thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,

tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,

7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định

tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì

thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết

bản án.

phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ