vanban.org

Bản án 110/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V đƣợc ly hôn với anh Lê Văn T. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 14, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp).

Về con chung: Buộc anh Lê Văn T giao con chung cháu Lê Văn Đức M, sinh ngày 09/11/2009 cho chị Lê Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Anh Lê Văn T không có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án V- T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V đƣợc ly hôn với anh Lê Văn T. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 14, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp).
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 110/2018/HNGĐ-ST
Ngày 10-9-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Ngọc Diệp;

Bà Nguyễn Hồng Gấm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 410/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 110/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018 giữa các đƣơng sự.

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị V, sinh năm 1985; địa chỉ: Nhà trọ Nguyễn Thị Đ, số 3/16 khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 27/7/2018).

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: Nhà trọ Nguyễn Thị Đ, số 3/16 khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 09/4/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V và anh Lê Văn T tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh T vào ngày 18/02/2009 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 14, quyển số 01/2009). Vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc một thời gian thì sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng không có tiếng nói chung, thiếu tôn trọng lẫn nhau nên thƣờng xuyên cãi vã, có lần anh T đã có hành động đánh đập chị V. Nay chị V xác định hôn nhân của chị và anh T không còn hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị V yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Lê Văn T.

Về con chung: Chị V và anh T có 01 ngƣời con chung tên Lê Văn Đức M, sinh ngày 09/11/2009. Sau khi ly hôn, chị V yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Lê Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Lê Văn T đã đƣợc Tòa án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh Tƣờng không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.Về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Thị V khởi kiện “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có địa chỉ tại Nhà trọ Nguyễn Thị Đ, số 3/16 khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã D theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Ngày 27/7/2018 nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 22/8/2018 và ngày 10/9/2018 nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V và anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 18/02/2009 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 14, quyển số 01/2009 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Chị V xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc khoảng thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thƣờng xuyên bất đồng quan điểm sống; tính tình không hợp, hai bên thiếu tôn trọng nhau nên thƣờng xuyên cãi vã và anh T đã có hành động đánh đập chị V. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị V yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh T đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh T không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của anh T đối với chị V đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.

Việc anh T bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị V cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị V và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu đƣợc ly hôn của chị V.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Lê Văn Đức M, sinh ngày 09/11/2009. Chị Lê Thị V yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh Lê Văn T cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chƣa thành niên. Quá trình tố tụng, anh T vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn đƣợc nuôi con. Trong thời gian gần đây và hiện nay vẫn do chị Lê Thị V nuôi dƣỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Cháu Lê Văn Đức M có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở để chấp nhận nguyện vọng của của chị Lê Thị V là đƣợc tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dƣỡng con chung Lê Văn Đức M.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V đƣợc ly hôn với anh Lê Văn T. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 14, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp).

2. Về con chung: Buộc anh Lê Văn T giao con chung cháu Lê Văn Đức M, sinh ngày 09/11/2009 cho chị Lê Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.

Anh Lê Văn T không có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Lê Thị V và anh Lê Văn T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Lê Văn T lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chi Lê Thị V nuôi con thì chị Lê Thị V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp theo biên lai số 0019273 ngày 17/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

5. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

6. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ