- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuấn A phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Lê Tuấn A sửa bản án sơ thẩm số 38/2017/HS-ST ngày 29/8/2017 của Tòa án nhân dân Thị xã K.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 143 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2017/HS-PT Ngày 27-10-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Lệ Thu Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thắng
Ông Bùi Văn Lam
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 106/2017/HSPT ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo Lê Tuấn A do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2017/HS-ST ngày 29/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh
- Bị cáo có kháng cáo
Lê Tuấn A; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 30 tháng 9 năm 1972, nơi sinh xã K1, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh Số CMND: 183937246, nơi cấp: Công an tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn Giáo: Không; Con ông Lê Đình D (đã chết), và Con bà Dương Thị M, sinh năm 1937, hiện đang sinh sống tại Tổ dân phố H, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Vợ: Nguyễn Hà T sinh năm 1983 (đã ly hôn năm 2015), con: 03 đứa, nhỏ nhất sinh năm 2010, lớn nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: + Bản án số 05/HSST, ngày 23-02-1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt Lê Văn A, 01 năm 06 tháng tù về tội “ Cưỡng đoạt tài sản của công dân’’; + Bản án số 04/HSST, ngày 20-02-2001 của Tòa án nhân dân huyện K, xử phạt Lê Văn A, 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”;
+ Bản án số 03/HSST, ngày 21-02-2012 của Tòa án nhân dân huyện K, xử phạt Lê Tuấn A, 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đã chấp hành xong thời gian thử thách ngày 22-02-2014;
+ Quyết định số 1807-QĐ/UB-NC, ngày 08-9-2005 của UBND tỉnh Hà Tĩnh đưa Lê Văn A vào cơ sở giáo dục với thời hạn 18 tháng;
(Theo lời khai của bị cáo và biên bản xác minh của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K thì các bản án, quyết định trên mang tên Lê Văn A và bị cáo Lê Tuấn A cùng một người). Bị cáo đã chấp hành xong các bản án, quyết định và đã xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19-5-2017 đến ngày 18-7-2017 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bão lãnh (Có mặt).
Vụ án có người bị hại là: ông Nguyễn Hữu T; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H, Nguyễn Công S, Nguyễn Xuân T, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) chi nhành Hà Tĩnh (Người đại diện theo ủy quyền ông Đặng Đình C và ông Lê Quang K) nhưng không có kháng cáo, án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 23-4-2017, sau khi uống rượu tại khách sạn C thuộc phường K1, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Lê Tuấn A đã gọi điện thoại cho Lê Đình C nhờ C vào chở về nhà. Khoảng 21 giờ cùng ngày trên đường về, A nhớ đến việc ông Nguyễn Hữu T, có vay A một số tiền chưa trả nên A bảo C “đi vào đây với anh một tý”, C đồng ý. Khi đến nhà gia đình ông Nguyễn Hữu T Tại đây, A đã có lời nói đe dọa và dùng kiếm (dao tự tạo) chém nhiều nhát vào tay tựa, vai ghế nơi ông T ngồi, ghế bên cạnh và mặt bàn lớn phía ông T ngồi làm hư hỏng phần gỗ, đồng thời chém vở mặt kính bằng thủy tinh của bộ ghế với mục đích đe dọa ông T trả nợ. Sau đó, A bắt ông T viết giấy hẹn trả nợ, lúc đó Lê Đình C đứng giữa phòng khách và nói “nếu ông viết giấy thì hẹn ngày trả đi”. Sau khi viết xong giấy hẹn trả nợ thì ông T đưa giấy hẹn cho C và nói xe tôi thế chấp tại ngân hàng, đồng thời đi ra xe ô tôbán tải Mazda BT50, màu sơn trắng, biển kiểm soát: 38C-071.19 của gia đình đang dừng trước cổng mở cửa xe lấy giấy tờ xe. Khi ông T đi ra, A cũng đi theo ra và đã dùng kiếm đâm vào cửa sau phía bên lái, chặt vào tay cầm cửa trước bên lái và chặt vào đèn xi nhan trên gương chiếu hậu phía bên lái, sau đó A quay vào phòng khách. Do bức xúc về việc Lê Tuấn A chặt phá tài sản của gia đình, nên Nguyễn Xuân T đã dùng điện thoại nhắn tin cho hai anh trai của mình là Nguyễn Văn H và Nguyễn Công S biết sự việc, nên H và S về. Khi về thấy tài sản trong nhà bị đập phá và thấy A tay cầm dao đe dọa ông T (bố đẻ của mình) nên S đi ra ngoài lấy 01 ống tuýp sắt dài 86cm, đường kính 02cm, đánh vào người A, làm A rơi hung khí. Tiếp đó H và T cũng nhảy vào dùng tay không đánh làm cho Lê Tuấn A bị thương phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa K từ ngày 24-4-2017 đến ngày 18-5-2017.
Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda, loại xe bán tải Mazda BT50, màu sơn trắng, biển kiểm soát: 38C-071.19, số khung: 455062, số máy: 056217, đã qua sử dụng, được đăng ký tên Công ty TNHH H. Xác định tài sản là thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Hữu T.
Bộ bàn ghế bị Lê Tuấn A làm hư hỏng là loại bàn ghế kiểu Minh Đào, trụ 12, loại sáu món làm bằng chất liệu gỗ Hương được xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Hữu T.
Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda loại xe CR-V 2.0L, màu đen, biển kiểm soát 38A-090.52, số máy: R20A59041213, số khung: 1833FY501202, đã qua sử dụng; có giấy chứng nhận đăng ký số 006576 ngày 24-7-2015.Được xác định chủ sở hữu là Lê Tuấn A. Hiện xe đang được đảm bảo tại Ngân hàng Thương mại cổ phấn Á Châu theo Hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản số: HTI.BĐCN. 173.240715 ngày 24-7-2015 để Lê Tuấn A vay tiền và Ngân hàng đang giữ giấy đăng ký xe bản gốc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 20/HĐĐG ngày 28-4-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thị xã Kỳ, kết luận: Thiệt hại gây ra đối với bộ bàn ghế kiểu Minh Đào, trụ 12, loại sáu món làm bằng chất liệu gỗ Hương có giá trị là 13.790.000 đồng .
Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/HĐĐG ngày 28-4-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thị xã K, kết luận: Thiệt hại đối với xe ô tô nhãn hiệu Mazda BT50, biển kiểm soát: 38C-071.19 có giá trị là 1.950.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là 15.740.000 đồng.
Sau khi Lê Tuấn A bị Nguyễn Văn H, Nguyễn Công S và Nguyễn Xuân T đánh, A đã điều trị và có đơn đề nghị giám định thương tật. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 57/TgT, ngày 23-6-2017 của Trung tâm pháp y thuộc sở y tế Hà Tĩnh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với Lê Tuấn A là 07% (Bảy phần trăm).
Với hành vi phạm tội trên, Tại bản án số:38/2017/HS-ST ngày 29/8/2017 Tòa án nhân dân thị xã K đã Quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 143, điểm b, p khoản 1 và 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999;
Xử phạt Lê Tuấn A 8 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 19-5-2017 đến ngày 18-7-2017.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại ông Nguyễn Hữu T và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường dân sự với nhau nên bản án cấp sơ thẩm không xét vấn đề này.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng vụ án; tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự; tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 01/9/2017, bị cáo Lê Tuấn A có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là trụ cột gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Tuấn A khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung của bản án sơ thẩm. Bị cáo trình bày ý kiến bổ sung xin giảm nhẹ hình phạt vào nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tuấn A giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Theo lời khai nhận tội của bị cáo Lê Tuấn A tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành của tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 143 BLHS, theo đó bản án hình sự sơ thẩm số 38/2017/HS-ST ngày 29-8-2017 của TAND thị xã K quyết định tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm theo luật định.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp được tình tiết mới là gia đình có công với cách mạng, mẹ đẻ là Dương Thị Thanh M có huân chương kháng chiến chống mỹ hạng nhì; theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường S thì hiện nay hoàn cảnh của bị cáo gặp rất nhiều khó khăn hiện phải nuôi hai con nhỏ, nuôi mẹ già 85 tuổi bị bệnh tâm thần, nuôi cháu con của anh trai đã mất. Trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi do nợ nần không thanh toán sòng phẳng dẫn đến bức xúc cho bị cáo. Với những tình tiết nêu trên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật.
Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu Án phí, lệ phí Tòa án bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c, khoản 1 Điều 249 BLTTHS
Chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Lê Tuấn A sửa bản án sơ thẩm số 38/2017/HS-ST ngày 29/8/2017 của Tòa án nhân dân Thị xã K.
Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 143, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999; điểm b khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017.
Xử phạt Lê Tuấn A 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 19-5-2017 đến ngày 18-7-2017.
Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 27 – Công an tỉnh Hà Tĩnh; - TAND,CA,VKS,THA sơ thẩm; - Bị cáo; - Lưu HSVA; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Lệ Thu |