- Tranh chấp gì? "Phạm Minh C tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 11/2020/HS-ST Ngày: 12-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tuấn và ông Lý Thái Thế
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Mãi - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 12/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử s 12/2020/QĐXX T-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 đ i với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Minh C, sinh năm 1991
Tại thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp
Nơi cư trú: Khóm K, Phường B, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Chỗ ở: Phòng s 01 nhà trọ N, ấp P, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: Làm thuê;
Trình độ học vấn: 7/12
Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam
Con ông: Phạm Thanh H, sinh năm 1958 (chết) và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1968 (chết)
Vợ: Trần Thị H1, sinh năm 1994
Con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 15/01/2020 bị Ủy ban nhân dân Phường 2, thành ph a Đ c áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi “ ử dụng trái ph p chất ma túy” với thời hạn 03 tháng kể từ ngày 15/01/2020.
Tạm giữ, tạm giam: không
Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Chị Trần Thị H1, sinh năm 1994 (có mặt)
Nơi cư trú: Khóm K, Phường B, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Minh C là người nghiện ma túy.
Vào khoảng 16 giờ ngày 08/3/2020 C đi đến Phường E, thành ph S gặp người thanh niên tên Q (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với s tiền 200.000 đồng. au khi mua ma túy xong, C đi về phòng trọ s 01 nhà trọ N tọa lạc ấp P, xã D, thành ph S nơi C thuê ở.
Đến khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, C lấy bịch ma túy ra để trên nền gạch chuẩn bị sử dụng thì bị Công an thành ph a Đ c kiểm tra bắt quả tang, thu giữ gồm:
- 01 bịch nylon màu trắng hàn kín một đầu, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng được niêm phong theo quy định;
- 01 bình nhựa tự chế hiệu ting nắp màu đỏ, có gắn nỏ thủy tinh và 01 ng hút nhựa màu xanh;
- tiền 1.000.000 đồng.
Tại kết luận giám định s 213/KL-KTHS ngày 10/3/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:
- Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín được niêm phong trong phong bì gửi giám định là chất ma túy, có kh i lượng 0,101 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng s 14/CT-VKSND-TP. Đ ngày 27/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đ c đã truy t bị cáo Phạm Minh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đ c trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:
- Về hình phạt chính: p dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt b sung đ i với bị cáo.
Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:
Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và người tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. ời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang được lập lúc 22 giờ 50 phút ngày 08/3/2020 của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy thuộc Công an thành ph a Đ c, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định s 213/KL-KTHS ngày 10/3/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Qua đó đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 22 giờ 50 phút ngày 08/3/2020 tại phòng trọ s 01 nhà trọ N tọa lạc ấp P, xã D, thành ph S, Phạm Minh C có hành vi cất giấu, tàng trữ ma túy có kh i lượng 0,101 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Theo Danh mục II ban hành kèm Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì Methamphetamine là một trong những chất ma túy, chất hướng thần độc hại, bị cấm sử dụng trái ph p, các chất này chỉ được sử dụng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, trong l nh vực y tế và phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.
Bị cáo là người đã thành niên nên có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được rằng ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, là chất độc hại. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái ph p , vì ma túy s làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, ý chí phấn đấu của người sử dụng. Thế nhưng, do tư tưởng xấu, không biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, nên bị cáo đã có hành vi đi đến Phường E, thành ph S để mua ma túy đem về phòng trọ của bị cáo cất giấu để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ ma túy. Vật chứng bị thu giữ là Methamphetamine có t ng kh i lượng là 0,101 gam.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi đó là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật, góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi c ý, động cơ mục đích phạm tội nhằm để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân.
Bị cáo là người đã có vợ và có con, bị cáo có một tiền sự về hành vi sử dụng trái ph p chất ma túy. Nếu biết ăn năn, h i cải thì bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động để tạo ra của cải, vật chất chăm cho gia đình, làm tấm gương t t cho con cái noi theo và phải tránh xa ma túy. Tuy nhiên với l i s ng thích hưởng thụ, chỉ biết s ng cho bản thân, sau khi bị Ủy ban nhân dân Phường 2, thành ph a Đ c áp dụng biện pháp giáo dục tại phường với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái ph p chất ma túy, trong thời gian giáo dục thì bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, bị cáo đã đi đến Phường E, thành ph S gặp người thanh niên tên Q mua ma túy đem về phòng trọ của bị cáo cất giấu để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang để rồi đi vào con đường phạm tội.
Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d)…………”
X t thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. X t thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng x t xử x t thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân t t, tu dưỡng bản thân, có ý thức chấp hành pháp luật, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng x t xử x t thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập n định, do đó không áp dụng hình phạt b sung đ i với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: X t thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem x t giảm nhẹ một phần mức hình phạt đ i với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng:
- Đ i với kh i lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì và công cụ dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đ i với s tiền 1.000.000 đồng của bị cáo C, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho C s tiền 800.000 đồng, tiếp tục tạm giữ s tiền 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
(Hiện tiền và vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự thành ph a Đ c đang quản lý).
Về án phí: Bị cáo Phạm Minh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đ i với người người thanh niên tên Q (không rõ họ tên, địa chỉ) có hành vi nhận tiền, giao ma túy cho C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph a Đ c tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh C mức án 01 năm tù (Một năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì ghi niêm phong s 221 ngày 09/3/2020 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên ê Minh V, Nguyễn Văn Bé N1, Nguyễn Minh N2 và Phạm Minh C;
- 01 bình nhựa tự chế hiệu ting nắp màu đỏ, có gắn nỏ thủy tinh và 01 ng hút nhựa màu xanh.
Của bị cáo C là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và là vật cấm tàng trữ.
Tiếp tục quản lý:
- tiền 200.000 đồng của bị cáo Phạm Minh C để đảm bảo thi hành án.
(Hiện vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành ph a Đ c đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2020).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016
Bị cáo Phạm Minh C nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VK ND TP a Đ c; (2b) - Công an TP a Đ c; (4b) - Chi cục THA TP a Đ c; (1b) - ở Tư pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những người tham gia t tụng; (1b) - ưu VT, TP; (2b) - ưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bé Mười |