vanban.org

Bản án 11

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tạm giam bị cáo: Trần Văn D, sinh năm 1975

Nơi cư trú: thôn Đồng Sinh, xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp: Lao động tự do Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tran Van D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tạm giam bị cáo: Trần Văn D, sinh năm 1975
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/20201/HSST
Ngày 26/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2021 tại hội trường nhà Văn hóa UBND xã T, huyện

Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2021/HSST, ngày 26/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HS, ngày 15/4/2021 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh năm 1975; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: thôn Đ, xã T,

huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ph, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1945; Vợ: Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1977; có 02 con lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2009 (hiện bố, mẹ, vợ con đang trú tại xã T); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số: 86/HSST ngày 11/10/2001, bị tòa án nhân dân

tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 08 năm tù về tội mua bán và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, D chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/08/2007 và bản án số: 07/HSST ngày 24/3/2016, bị tòa án nhân dân huyện Sông Lô xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, D chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2018 và đến nay đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2021 đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Duy T, sinh năm 1992.

Trú tại thôn T, xã Đ, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn D trú tại thôn Đ, xã T, huyện Sông Lô là đối tượng nghiện ma tuý nhiều năm nay, nhằm có tiền phục vụ cho việc sử dụng ma tuý. Trưa ngày 06/02/2021, D đi đến khu vực xã T, huyện Lập Thạch mua 01 gói ma tuý với giá 300.000đ mang về nhà D sử dụng một phần, số còn lại D để bán cho người khác kiếm lời. Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 06/02/2021, D gọi điện cho Hà Duy T, ở thôn T, xã Đ, huyện Sông Lô để hỏi xem có mua ma tuý thì D bán cho, T đồng ý hẹn D khi nào đi làm về sẽ mua. Đến chiều tối cùng ngày T gọi điện thoại thì D bảo đi đến cổng nhà D để mua bán ma tuý. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, T đi đến cổng nhà D thì gọi điện thoại cho D mang ma túy ra bán, D cầm 01 gói ma túy ở tay trái rồi đi ra đường TL307 thuộc thôn Đ, xã T để bán cho T. Khi gặp D, T nói “bán cho em gói ma túy 200.000đ”, D đồng ý cầm gói ma túy ở tay trái đang chìa ra đưa cho T thì bị Công an huyện Sông Lô phát hiện bắt quả tang. Thấy lực lượng Công an, D hoảng sợ ném gói ma túy xuống mặt đường gần vị trí D và Tân đang đứng thì bị Công an thu giữ vật chứng là 01 gói nhỏ ma tuý, bên ngoài gói bằng giấy trắng và bên trong có chất cục bột màu trắng. D tự khai nhận đây là gói ma tuý Heroin đang bán cho T thì phát hiện thu giữ, được niêm phong ký hiệu A1; thu tại túi quần của Tân số tiền 200.000 đồng (02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, Tân tự khai nhận đây là tiền mua ma tuý của D nhưng chưa kịp đưa thì bị thu giữ; 01 điện thoại di động Nokia cũ, màu đen của T và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

Cùng ngày 06/02/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Lô tiến hành

khám xét khẩn cấp chỗ ở của D tại thôn Đ, xã T, huyện Sông Lô thu giữ thêm 01 ĐTDĐ màu đỏ nhãn hiệu HUAWEI cũ và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Trần Văn D.

Ngày 06/02/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Lô quyết định

trưng cầu giám định số: 52 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma tuý tại các mẫu vật được niêm phong ký hiệu A1.

Tại kết luận giám định số: 419/KLGĐ ngày 09/02/2021 của Phòng kỹ thuật

hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột, cục màu trắng mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0583g, loại heroine. Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định cho cơ quan trưng cầu 0,0225gam mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong.

Đối với Hà Duy T là người nghiện chất ma túy, mục đích mua ma túy để sử

dụng nhưng T chưa nhận được gói ma túy của D nên hành vi không cấu thành tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Lô đã giao cho chính quyền địa phương xã Đ, huyện Sông Lô xử lý vi phạm hành chính bằng biện pháp giáo dục tại xã là có căn cứ pháp luật.

Về nguồn gốc số ma tuý bán cho T, D khai nhận mua của người tên H ở xã

Y, huyện Sông Lô. Tuy nhiên D không biết rõ họ tên, lý lịch và địa chỉ thật của H, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSSL-MT ngày 24/3/2021 Viện kiểm sát

nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Trần Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn D từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu)

tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo D đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân

huyện Sông Lô đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ

mức hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an

huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình như sau: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 06/02/2021, tại đoạn đường tỉnh lộ 307 thuộc thôn Đ, xã T, huyện Sông Lô bị cáo có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,0583gam cho Hà Duy Tân với giá 200.000đ thì bị Công an huyện Sông Lô bắt quả tang. Thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Trần Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Do đó bản cáo trạng số: 14/CT-VKSSL-MT ngày 24/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Trần Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bị oan.

Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất

trật tự, an ninh ở địa phương nhất là trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương, biện pháp đấu tranh không khoan nhượng đối với các loại tội phạm về ma tuý nhưng trên địa bàn xã T nói riêng và huyện Sông Lô nói chung tội phạm về ma tuý diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng ra tăng, nó cũng là mầm mống nảy sinh những tội phạm khác như: Trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản......Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe những kẻ khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự thấy rằng; Bị cáo có nhân thân xấu. Tại bản án số:86/HSST ngày 11/10/2001, tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và bản án số: 07/HSST ngày 24/3/2016, tòa án nhân dân huyện Sông Lô xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà lại lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo xác

nhận là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định là 0,0225g Heroine và toàn bộ bao gói. Đối với 01 chiếc HUAWEI màu đỏ cũ và 01 chiếc Nokia màu đen cũ là tài sản của D và Tân, D và Tân đã dùng liên lạc với nhau để mua bán ma tuý nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ Tân mua ma túy của D. Trả lại cho Trần Văn D 01 CMND không liên quan đến việc bán trái phép chất ma túy sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2/ Điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều

51 Bộ luật hình sự.

Phạt: Trần Văn D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ,

tạm giam ngày 06 tháng 02 năm 2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo D để đảm bảo thi hành án.

3/ Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ

luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định là 0,0225g Heroine và toàn bộ bao gói. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động HUAWEI màu đỏ cũ và 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu đen cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ. Trả lại cho Trần Văn D 01 CMND sau khi án có hiệu lực pháp luật (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2021 của cơ quan Công an huyện Sông Lô với Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án./. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND huyện Sông Lô;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; -TAND tỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô; -Công an huyện Sông Lô; -UBND xã T;

- Trại giam CA tỉnh;

Nguyễn Kiên Thành

- Bị cáo; Người có QLNV liên quan; -Lưu hs; Vp. TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào 08 hồi giờ 50 phút ngày 26 tháng 4 năm 2021.

Tại: Phòng làm việc UBND xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hà.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2021/HSST ngày 26

tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh năm 1975

Nơi cư trú: thôn Đồng Sinh xã Tân Lập, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên, kết quả tranh

tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để điều

tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

2/ Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm

sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

3/ Về tội danh và Điều luật áp dụng: có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Trần

Văn D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

4/ Về hình phạt:

Phạt: Trần Văn D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm

giam ngày 06 tháng 02 năm 2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo D để đảm bảo thi hành án. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

5/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật

tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy Mẫu vật hoàn lại sau giám định là 0,0225g Heroine và toàn bộ bao gói. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động HUAWEI màu đỏ cũ và 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu đen cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ. Trả lại cho Trần Văn D 01 CMND không liên quan đến vụ án nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án. (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2021 của cơ quan Công an huyện Sông Lô với Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

6/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện

Vĩnh Tường trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

7/ Quyền kháng cáo: Bị cáo D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án và người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 05 phút ngày 26 tháng 4 năm 2021.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử

cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Mạnh Tuấn

Nguyễn Thị Hà

Nguyễn Kiên Thành

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

Sông Lô ngày 26 tháng 4 năm 2021 Số: 04/2021/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hà.

Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 26/4/2021 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc Thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tạm giam bị cáo: Trần Văn D, sinh năm 1975

Nơi cư trú: thôn Đồng Sinh, xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép

chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06 tháng 02 năm 2021.

Thời hạn tạm giam là: 45 (Bốn mươi năm) ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày

26/4/2021.

2/ Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm Thi hành quyết định

này.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ