- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Chờ P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11 /2020/HS-ST Ngày 19/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cà Mạnh Hải.
2. Ông Tòng Văn Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sóng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Vàng A Vừ, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng Chờ P (tên gọi khác: Không), sinh năm 1982 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Chù T (tên gọi khác Giàng Chù Th), đã chết và bà Tráng Thị S, sinh năm 1958; Vợ Ly Thị N, sinh năm 1984 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ ngày 27/6/2020 đến 30/6/2020; Tạm giam từ ngày 30/6/2020 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02/6/2020 Giàng Chờ P một mình đi đến bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tìm việc làm thuê. Đến bản N, P gặp một người đàn ông dân tộc Mông giới thiệu tên là Thào A P, qua trao đổi P mua của người đàn ông này một gói rưỡi ma túy tổng hợp (không đếm số viên) giá 2.700.000đ mang về nhà cất giấu trong tủ quần áo của gia đình. Mục đích để sử dụng và bán lẻ. Giàng Chờ P đã sử dụng nhiều lần và đến khoảng 16 giờ ngày 26/6/2020, Giàng Chờ P đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên, địa chỉ gọi điện đến hỏi mua ma túy của P và hẹn đến khu vực bản N, xã T, huyện Đ để giao dịch. Giang Chờ P nhất trí và đến khoảng 17 giờ ngày 27/6/2020, P mang số ma túy còn lại đến bản N ngồi chờ người đàn ông dân tộc Thái đến để giao dịch như hẹn hôm trước thì bị tổ công tác công an huyện Đ đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ một túi viên nén màu hồng ( không đếm số lượng) và một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy ngày 27/6/2020 xác định: số viên nén màu hồng thu giữ của Giàng Chờ P có khối lượng là 24,65gam trích 0,39 gam gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 652/GĐ-PC09 ngày 08/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Giàng Chờ P là Methamphetamine, đây là chất ma túy thuộc danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được đối tượng gọi điện mua ma túy của Giàng Chờ P và người đàn ông dân tộc Mông tên Thào A P đã bán ma túy cho Giàng Chờ P vì không có đủ thông tin.
Cáo trạng số: 68/CT-VKS-ĐBĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Giàng Chờ P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ
nguyên quan điểm truy tố bị cáo Giàng Chờ P cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Giàng Chờ P từ 12 năm đến 13 năm tù; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy 24,26 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; Trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo cho bị cáo; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì
với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Giàng Chờ P thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ là 24,65gam Methamphetamine cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mục đích tàng trữ số ma túy trên là để sử dụng và bán lẻ kiếm lời, ngày 27/6/2020 đang đợi giao dịch thì bị bắt. Cho nên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng Chờ P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi mua ma túy về sử dụng hủy hoại sức khỏe bản thân và bán lẻ gieo rắc chất gây nghiện cho đồng loại là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý mua sử dụng và bán lẻ đã xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Khối lượng chất ma túy bị thu giữ xác định là 24,65 gam nên Viện kiểm sát nhân nhân huyện Đ truy tố bị cáo theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”
i) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bản thân sinh ra trong gia đình thuần nông, cuộc sống nghèo khó được bố mẹ cho ăn học đến lớp 5 thì nghỉ ở nhà lao động, sản xuất và hiện nay đã lập gia đình riêng.Bị cáo là người chồng, người cha nhưng không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà đua đòi bạn bè dẫn đến nghiện chất ma túy từ năm 2019 đến nay và từ nghiện ma túy nên mua sử dụng và bán lẻ kiếm lời phạm tội như ngày hôm nay. Cho nên, bị cáo Giàng Chờ P phải chịu trách nhiệm cho hành vi mình đã thực hiện.
Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo Giàng Chù T có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng nhất. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra
khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục đồng thời để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy hoàn cảnh bản thân bị cáo nghiện chất ma túy, gia đình và cá nhân không có tài sản gì có giá trị, cuộc sống khó khăn nên khó có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về vật chứng vụ án:
24,26 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm
tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo thu giữ của bị cáo ngoài lời khai nhận của
bị cáo dùng chiếc điện thoại trên liên lạc bán ma túy không có chứng cứ nào khác chứng minh đây là phương tiện liên lạc phạm tội cho nên cần trả lại cho bị cáo sở hữu theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ( dân tộc Mông), đang cư trú tại xã T, huyện Đ là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được đối tượng gọi điện mua ma túy của Giàng Chờ P và người đàn ông dân tộc Mông tên Thào A P đã bán ma túy cho Giàng Chờ P vì không có đủ thông tin. Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm c
khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 331, 333 của Bộ
luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.
1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng Chờ P (tên gọi khác: Không) phạm tội:“Mua bán
trái phép chất ma túy”: Xử phạt bị cáo Giàng Chờ P 12 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 27/6/2020).
2. Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 24,26gam Methamphetamine (đã trừ giám định).
- Trả lại cho bị cáo Giàng Chờ P một chiếc điện thoại di động loại màn
hình
cảm
ứng,
hiệu
Oppo,
số
IMEI:866531047527137, IMEI:866531047527129.
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 15/10/2020 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Chờ P.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án (ngày 19/11/2020)./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Phòng NVHS CA huyện Đ; - CCTHADS huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Nga |