vanban.org

Bản án 11/2026/LĐ-PT — Các yêu cầu khác

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 15/06/2026 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/06/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của Cty TNHH Bình Tiên Đồng Nai.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá V: Tuyên Quyết định Tạm đình chỉ công việc số 2288/QĐ-BTĐN ngày 24/07/2018, Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2377/QĐ-BTĐN ngày 07/08/2018, Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 24… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu khác — án lao động — "T/c HĐ lao động"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của Cty TNHH Bình Tiên Đồng Nai.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn th…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2026/LĐ-PT
Ngày: 15 - 6 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
lao động”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An

Các Thẩm phán: Bà Lê Hồng Hạnh

Bà Phạm Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Dung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Vang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 06 năm 2026, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai xét xử công khai vụ án Lao động phúc thẩm thụ lý số: 17/2026/TLPT – LĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025, V/v: “Tranh chấp: tạm đình chỉ công việc, tiền phép năm, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nghĩa vụ hoàn trả tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐXXPT-LĐ, ngày 16 tháng 03 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá V, sinh năm 1976; “có mặt”

Địa chỉ: A1/6A, tổ 14, khu phố 1, phường Trung Dũng, Thành phố Biên Hoà, (nay là phường Trấn Biên) thành phố Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Cao Thị Ú, sinh năm 1992; Địa chỉ: 1796 Nguyễn Ái Quốc, phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa, (nay là phường Trấn Biên) thành phố Đồng Nai (theo văn bản ủy quyền ngày 30/10/2023) “có mặt”

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông V: Ông Võ Văn D- luật sư Công ty Luật TNHH Gia Vinh thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh. “có mặt”

- Bị đơn: Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai

Địa chỉ: Số 1/1, đường Phạm Văn Thuận, phường Tam Hiệp, thành phố Đồng Nai.

Địa chỉ liên hệ: Số 101/2, đường số 3, khu công nghiệp Amata, phường Long Bình, thành phố Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: bà Lai K- Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Tố L, sinh năm 1996; Địa chỉ: 17 Trần Văn Nữa, KP.3, P. Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 04/11/2022). “có mặt”

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố Đồng Nai.

Địa chỉ: 219 Hà Huy Giáp, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa (nay là phường Trấn Biên), thành phố Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Phương H, sinh năm 1976, chức vụ: Phó Chánh Văn phòng (văn bản ủy quyền ngày 08/01/2025) “xin vắng mặt”

- Người làm chứng: Ông Lê Tự H, sinh năm 1981; Địa chỉ: 201/3, tổ 19, KP.3, P. Bình Đa, thành phố Biên Hoà (nay là phường Tam Hiệp), thành phố Đồng Nai. “có mặt tại phiên toà, vắng mặt khi tuyên án”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Bá V do bà Cao Thị Ú đại diện trình bày:

Ngày 11/08/1998, ông V bắt đầu làm việc tại vị trí Nhân viên Bộ phận Quản lý chất lượng cho Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai (gọi tắt là Công ty Bình Tiên Đồng Nai). Trải qua nhiều vị trí công tác, hiện tại, ông V đang là nhân viên cung tiêu. Hợp đồng lao động gần nhất được ký kết giữa ông V và Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai là Hợp đồng không xác định thời hạn số DN9808520, ngày 03/07/2013. Hai bên cũng đã ký kết Phụ lục Hợp đồng lao động số DN9808520 để điều chỉnh mức lương của ông V từ tháng 01/2018 đến nay là 7.345.000 đồng. Các Hợp đồng lao động trước đây ông V không còn lưu trữ. Khoảng tháng 07/2018, khi phát hiện ông V có một số sai phạm trong công việc, Công ty Bình Tiên Đồng Nai đã tạm đình chỉ công việc đối với ông V và yêu cầu ông V bàn giao công việc cho các bộ phận liên quan. Từ đó đến nay, Công ty Bình Tiên Đồng Nai không xác định và thông báo cho ông V thời hạn tạm đình chỉ đến khi nào và cũng không tạm ứng cho ông V bất kỳ khoản tiền lương nào. Hiện Công ty Bình Tiên Đồng Nai còn đang giữ của ông V số tiền ký quỹ ông V phải đóng vào Công ty Bình Tiên Đồng Nai để đảm bảo trách nhiệm trong công việc là 8.000.000 đồng. Ngoài ra, ông V cũng được biết Công ty Bình Tiên Đồng Nai cũng đã dừng đóng các loại bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật nhưng không hoàn trả cho ông V sổ bảo hiểm nên ông V không thể nhận bảo hiểm thất nghiệp. Ông Việt đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu Công ty Bình Tiên Đồng Nai bồi thường các trách nhiệm liên quan nhưng phía Công ty Bình Tiên Đồng Nai không có thiện chí làm việc. Ông Việt cũng đã nộp Đơn yêu cầu hòa giải tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa, tuy nhiên, trong cả hai lần (ngày 12/3/2020 và ngày 17/3/2020), Công ty Bình Tiên Đồng Nai đều không cử người đại diện làm việc nên hòa giải không thành.

Tại Đơn khởi kiện ngày 23/3/2020, ông Nguyễn Bá V yêu cầu Tòa án:

- Tuyên việc công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai tạm đình chỉ công việc, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông V là trái pháp luật và giải quyết hậu quả pháp lý gồm:

+ Thanh toán 100% tiền lương từ thời điểm công ty bắt đầu tạm đình chỉ công việc và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (23/7/2018) tạm tính đến thời điểm khởi kiện;

+ Bồi thường hai tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

+ Trường hợp công ty không nhận ông trở lại làm việc thì ông đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động và buộc công ty thanh toán thêm 02 tháng tiền lương cho ông

+ Thanh toán toàn bộ số tiền đáng lẽ công ty phải nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội tạm tính đến thời điểm khởi kiện;

+ Thanh toán tiền lương cho 45 ngày (tương đương 1,5 tháng lương) công ty chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước cho ông;

+ Thanh toán lương tháng thứ 13 theo quy định của Công ty cho các năm 2018, 2019;

+ Thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho 10,5 năm làm việc (từ 11/8/1998 đến 01/01/2009) mỗi năm ½ tháng lương;

+ Thanh toán khoản trợ cấp thất nghiệp (từ tháng 01/2009 đến tháng 8/2018) là 9 x 60%x7345.000 = 39.663.000 đồng.

- Buộc Công ty hoàn trả cho ông số tiền ký quỹ 8.000.000 đồng.

- Buộc Công ty chốt và trả Sổ bảo hiểm xã hội cho ông.

Tại Đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/11/2024, ông V yêu cầu Tòa án:

- Tuyên Quyết định về việc tạm đình chỉ công việc số 2288/QĐ-BTĐN ngày 24/07/2018 và các Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2377/QĐ-BTĐN ngày 07/08/2018, số 2481/QĐ-BTĐN ngày 21/8/2018 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành là trái pháp luật;

- Tuyên Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành là trái pháp luật;

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V 100% tiền lương những ngày không được làm việc từ 30/8/2018, tạm tính đến ngày bổ sung yêu cầu khởi kiện (25/11/2024) là: 74 tháng x 7.600.000 + (7.600.000 : 26 x 23 ngày) = 562.400.000 + 6.723.077 = 569.123.077 đồng.

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai bồi thường cho ông V 02 tháng tiền lương là: 7.600.000 x 02 tháng = 15.200.000 đồng;

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V tiền lương 45 ngày do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật mà không báo trước là: 7.600.000: 30 x 45 ngày = 11.400.000 đồng;

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V tiền trợ cấp thôi việc: 39.900.000 đồng;

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V phép thường niên tồn: 2.630.760 đồng;

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V tháng lương thứ 13 của các năm: 2018, 2019, 2020, 2021, 2022, 2023 là: 7600.000 x 6 = 45.600.000 đồng;

- Tổng cộng về tiền: Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V 682.099.991 đồng.

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai truy đóng các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, phí công đoàn cho ông V từ 30/8/2018, tạm tính đến 25/11/2024.

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai chốt và hoàn trả sổ bảo hiểm cho ông V.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án:

- Tuyên Quyết định tạm đình chỉ số 2288/QĐ-BTĐN ngày 23/7/2018 và các Quyết định gia hạn tạm đình chỉ số 2377/QĐ-BTĐN ngày 08/8/2018, số 1551/QĐ-BTĐN ngày 01/7/2019, 1580/QĐ-BTĐN ngày 16/7/2019, 1948/QĐ-BTĐN ngày 01/8/2019, 1949/QĐ-BTĐN ngày 16/8/2019, 1950/QĐ-BTĐN ngày 01/9/2019, 1951/QĐ-BTĐN ngày 16/9/2019 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành là trái pháp luật;

- Tuyên Quyết định về việc tạm đình chỉ công việc số 2288/QĐ-BTĐN ngày 24/07/2018 và các Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2377/QĐ-BTĐN ngày 07/08/2018, số 2481/QĐ-BTĐN ngày 21/8/2018 là trái pháp luật;

- Tuyên Quyết định chấm dứt Hợp đồng ngày 30/8/2018 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành trái pháp luật;

- Buộc Công ty Bình Tiên phải bồi thường 02 tháng tiền lương do chấm dứt Hợp đồng trái pháp luật là 7.600.000 x 2 tháng = 15.200.000

Buộc Công ty Bình Tiên thanh toán tiền lương 45 ngày do đơn phương chấm dứt Hợp đồng nhưng không báo trước là 7.600.000 x 1,5 tháng = 11.400.000

Buộc Công ty thanh toán 100% tiền lương trong những ngày không được làm việc (từ ngày 01/8/2018 đến hết ngày 30/6/2022) là 7.600.000 x 47 tháng = 357.200.000

Buộc Công ty hoàn trả tiền ký quỹ 8.000.000 đồng

Buộc Công ty thanh toán trợ cấp thôi việc 39.900.000 đồng

- Buộc Công ty truy thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 8/2018 đến hết tháng 6/2022. Mức đóng bảo hiểm cho ông V được tính trên mức tiền lương 7.345.000 đồng/tháng.

- Buộc Công ty trả Sổ bảo hiểm cho ông V;

Ông Việt tự nguyện chấm dứt quan hệ lao động với Công ty Bình Tiên kể từ ngày xét xử sơ thẩm. Ông xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các yêu cầu sau:

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V phép thường niên tồn là 2.630.760 đồng;

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V tháng lương thứ 13 của các năm: 2018, 2019, 2020, 2021, 2022, 2023 là: 7.600.000 x 6 = 45.600.000 đồng;

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải đóng tiền phí công đoàn cho ông V từ 30/8/2018 đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bình Tiên Đồng Nai do bà Nguyễn Tố L đại diện trình bày:

Ngày 11/8/1998, ông V được tuyển vào làm việc với vị trí nhân viên Phòng Quản lý chất lượng của Công ty. Ngày 03/7/2013, Công ty ký hợp đồng không xác định thời hạn với ông V và từ tháng 01 năm 2018, Công ty ký phụ lục hợp đồng với mức lương 7.345.000đ/tháng. Sau nhiều công việc khác nhau, ngày 16/7/2015, ông V được bố trí làm nhân viên cung tiêu tại Phòng Vật tư- Tiếp nhận và Xử lý đơn hàng. Ngày 26/6/2018, ông V trình bày với chủ quản là ông muốn xin nghỉ việc. Trong thời gian bàn giao công việc thì Công ty phát hiện ông V đã phối hợp với nhà cung cấp sửa chữa khuôn kê giá và số lượng để chiếm đoạt số tiền 80.000.000 đồng của Công ty, cụ thể là Công ty Khuôn mẫu Toàn Cầu do ông Sơn Khánh H đại diện.

Ngày 23/7/2018, sau khi lấy ý kiến của Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở, Công ty đã ra quyết định tạm đình chỉ đối với ông V từ ngày 24/7/2018 (QĐ số 2288/QĐ-BTĐN) để xác minh làm rõ sự việc vi phạm của ông V. Do ông V quanh co, không nhận sai phạm nên ngày 06/8/2018, Công ty họp lấy ý kiến Ban Chấp hành Công đoàn để ra Quyết định gia hạn thời gian tạm đình chỉ đối với ông V kể từ ngày 07/8/2018 (QĐ số 2377/QĐ-BTĐN). Sau 04 lần giải trình, ngày 06/8/2018 ông V đã thừa nhận hành vi sai phạm và cam kết hoàn trả số tiền 80.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó, ông V không đến Công ty và không trả số tiền 80.000.000đ như đã cam kết. Ngày 20/8/2018, tổ chức Công ty tiến hành họp lấy ý kiến Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở để ra Quyết định gia hạn thời gian tạm đình chỉ đối với ông V kể từ ngày 21/8/2018 (QĐ 2481/QĐ-BTĐN). Ngày 22/8/2018, ông V gửi đơn xin nghỉ việc và xin nghỉ từ ngày 30/8/2018. Ban Lãnh đạo Công ty đã chấp nhận nguyện vọng của ông V và chỉ đạo thực hiện giải quyết đầy đủ các chế độ sau khi nghỉ việc đối với ông V. Công ty đã ban hành Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 đối với ông V. Đối với số tiền 8.000.000 đồng là tiền ông V tự nguyện nộp nhằm tăng tính tập thể và trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao, được chi trả trong hồ sơ thanh toán chế độ thôi việc của ông V. Như vậy, tổng số tiền thanh toán chế độ thôi việc của ông V với mức lương 7.600.000 đồng (bao gồm lương mua bảo hiểm 7.345.000đ + 255.000đ tiền thưởng) là: 54.184.615đ (gồm 50% lương của 25 ngày tạm đình chỉ công việc trong tháng 02/2018; 8.000.000 tiền ký quỹ; trợ cấp thôi việc tương đương 5,25 tháng lương tính từ 11/8/1998 đến 31/8/2018, 09 ngày phép thường niên tồn). Sau khi cấn trừ khoản tiền 80.000.000 đồng ông V chiếm đoạt của Công ty thì ông V phải hoàn lại cho Công ty 25.815.385 đồng. Ngày 21/9/2018, Công ty đã gửi đơn tố giác tội phạm đến Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông V. Việc Công ty ban hành Quyết định tạm đình chỉ công việc đối với ông V từ 24/7/2018 đến 29/8/2018 (32 ngày vẫn tính lương 50% cho ông V, trong đó số lương tạm đình chỉ trong tháng 7/2018 Công ty đã chuyển khoản chi trả cùng kỳ lương tháng 7/2018 của ông V; còn 25 ngày tạm đình chỉ trong tháng 8/2018 được chi trả trong hồ sơ thanh toán thôi việc) để làm rõ sự việc thông đồng với nhà cung cấp sửa khuôn nhằm chiếm đoạt số tiền 80.000.000đ của Công ty là đúng quy định pháp luật. Thời điểm đó, Công ty đã thông cảm cho ông V khi vẫn ký ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động theo đơn xin thôi việc của ông V từ ngày 30/8/2018 và thực hiện hồ sơ thanh toán chế độ thôi việc, chốt sổ bảo hiểm xã hội đầy đủ cho ông V đến hết tháng 7/2018.

Do ông V đã biết Công ty ban hành các Quyết định tạm đình chỉ, gia hạn tạm đình chỉ, chấm dứt hợp đồng lao động nhưng đến ngày 25/11/2024 mới khởi kiện bổ sung là đã hết thời hiệu khởi kiện nên bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án thì bị đơn đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn.

Tại Đơn phản tố đề ngày 20/6/2024, bị đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Bá V phải hoàn trả cho Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai số tiền 25.815.385 đồng (hai mươi lăm triệu tám trăm mười lăm nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng) đã chiếm đoạt của Công ty.

Tại Bản tự khai ngày 09/01/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai do bà Đinh Thị Phương H đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ông Nguyễn Bá V có quá trình tham gia đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Bình Tiên Đồng Nai từ tháng 9/1998 đến tháng 7/2018; đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) từ tháng 01/2009 đến tháng 7/2018. Trong trường hợp nếu Toà án tuyên Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty trách nhiệm hữu hạn Bình Tiên Đồng Nai đối với ông V là trái quy định pháp luật, Hợp đồng lao động của ông V với Công ty tiếp tục còn hiệu lực, thì Công ty trách nhiệm hữu hạn Bình Tiên Đồng Nai phải trả tiền lương cho ông V trong những ngày ông V không làm việc do lỗi của Công ty, phải truy đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho ông V theo quy định pháp luật.

Tại Bản án Lao động sơ thẩm số 22/LĐ-ST, ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai, Tuyên xử

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều

Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 38, Điều 42, 48, Điều 90, Điều

129, khoản 2 Điều 202 Bộ lao động năm 2012; Điều 202 Bộ luật lao động năm 2019; Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ và Nghị định 148/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/10/2018 của Chính phủ; Điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 2, khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá V:

- Tuyên Quyết định Tạm đình chỉ công việc số 2288/QĐ-BTĐN ngày 24/07/2018, Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2377/QĐ-BTĐN ngày 07/08/2018, Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2481/QĐ-BTĐN ngày 21/8/2018 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành là trái pháp luật

Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải trả cho ông Nguyễn Bá V tiền lương những ngày tạm đình chỉ công việc là 7.600.000 (bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng.

- Tuyên Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành là trái pháp luật

Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải thanh toán cho ông V: tiền lương trong những ngày không được làm việc là 349.600.000 đồng (ba trăm bốn mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng); bồi thường hai tháng tiền lương là 15.200.000 (mười lăm triệu hai trăm nghìn) đồng; thanh toán số tiền 11.400.000 (mười một triệu bốn trăm nghìn) đồng do vi phạm thời hạn báo trước;

Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải truy đóng các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội cho ông V trong những ngày không được làm việc từ tháng 8/2018 đến tháng 6/2022 theo quy định pháp luật và trả sổ bảo hiểm cho ông Nguyễn Bá V. Ông Việt và Công ty Bình Tiên Đồng Nai có nghĩa vụ liên hệ Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai thực hiện việc truy đóng các khoản BHXH từ tháng 8/2018 đến tháng 6 năm 2022 theo quy định

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải trả cho ông V số tiền trợ cấp thôi việc là 39.900.000 đồng;

- Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải trả cho ông V số tiền ký quỹ 8.000.000 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá V về việc tuyên Quyết định tạm đình chỉ công việc số 2288/QĐ-BTĐN ngày 23/7/2018; Các Quyết định gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2377 ngày 08/8/2018, Quyết định số 1551 ngày 01/7/2019, Quyết định số 1580 ngày 16/7/2019, Quyết định số 1948 ngày 01/8/2019, Quyết định số 1949 ngày 16/8/2019, Quyết định số 1950 ngày 01/9/2019, Quyết định số 1951 ngày 16/9/2019 là trái quy định pháp luật.

3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá V đối với các nội dung sau: Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán số tiền phép thường niên tồn 2.630.760 đồng; buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V tháng lương thứ 13 của các năm: 2018, 2019, 2020, 2021, 2022, 2023, 2024 là: 7600.000 x 7 = 53.200.000; buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai truy đóng phí công đoàn cho ông V từ tháng 8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm

4. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Bá V về việc trả cho Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng)

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

Tại phiên tòa:

- Đại diện bị đơn CTY TNHH Bình Tiên Đồng Nai giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và yêu cầu khởi kiện;

- Ông Nguyễn Bá V, đại diện theo ủy quyền của ông V, người bảo vệ quyền lợi cho ông V không đồng ý kháng cáo của bị đơn; lý do: Cty Bình Tiên ban hành các Quyết định tạm đình chỉ là không đúng; đơn xin nghỉ việc không phải do ông V ký nộp, Cty ban hành quyết định nghỉ việc 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định; không giao quyết định cho ông V nên ông V không biết để thực hiện quyền của mình.

- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai. Sửa một phần Bản án Lao động sơ thẩm số 22/2025/LĐ-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Cty TNHH Bình Tiên Đồng Nai trong thời hạn và thực hiện đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm;

Về nội dung:

Ngày 11/8/1998, ông V được tuyển vào làm việc với vị trí nhân viên Phòng Quản lý chất lượng của Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai. Ngày 03/7/2013, Công ty ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn với ông V và từ tháng 01 năm 2018, Công ty ký phụ lục hợp đồng với mức lương 7.345.000đ/tháng. Sau nhiều công việc khác nhau, ngày 16/7/2015, ông V được bố trí làm nhân viên cung tiêu tại Phòng Vật tư- Tiếp nhận và xử lý đơn hàng. Do đó, có cơ sở xác định giữa ông Nguyễn Bá V và Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai có phát sinh quan hệ pháp luật về lao động từ ngày 11/8/1998, Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai là người sử dụng lao động, ông Nguyễn Bá V là người lao động, hợp đồng lao động của ông V với Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai là hợp đồng không xác định thời hạn.

Qua tài liệu chứng cứ tại hồ sơ thể hiện, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất mức lương của ông V tại thời điểm bị tạm đình chỉ công việc là 7.600.000 đồng nên cơ sở xác định mức lương thu nhập của ông V theo hợp đồng giữa các bên để xem xét giải quyết tranh chấp là 7.600.000 đồng/tháng. Căn cứ hợp đồng lao động và văn bản số 134/BHXH-QLT ngày 29/01/2021 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai cung cấp, mức lương để làm căn cứ đóng các loại bảo hiểm cho người lao động của ông V là 7.345.000 đồng/tháng.

Xét kháng cáo của Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai, xét thấy:

Đối với phần Quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên Quyết định Tạm đình chỉ công việc số 2288/QĐ-BTĐN ngày 24/07/2018, Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2377/QĐ-BTĐN ngày 07/08/2018, Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2481/QĐ-BTĐN ngày 21/8/2018 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành là trái pháp luật là có căn cứ; bị đơn không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với kháng cáo không đồng ý tuyên Hợp đồng chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 là trái pháp luật; xét thấy:

Tại Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018, lý do chấm dứt hợp đồng lao động là “Theo đơn xin nghỉ việc” của ông V. Chứng cứ bị đơn nộp là bản chính “Đơn xin nghỉ việc” ngày 22/8/2018 có chữ ký của ông Nguyễn Bá V. Tại cấp sơ thẩm, theo yêu cầu của đương sự Tòa đã tiến hành trưng cầu giám định đối với “Đơn xin nghỉ việc”. Tại Kết luận giám định số 873/KL-KTHS, ngày 10/6/2025 kết luận: “Chữ ký mang tên Nguyễn Bá V trên mẫu giám định (ký hiệu A) so với chữ ký mang tên Nguyễn Bá V trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M5) không phải do cùng một người ký ra”. Căn cứ Kết luận giám định, Tòa cấp sơ thẩm xác định “Đơn xin nghỉ việc” không phải do ông V ký và nộp nên tuyên Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 của Cty Bình Tiên ban hành là trái pháp luật và buộc Cty phải bồi thường và thanh toán các khoản chế độ và lương cho ông V do lỗi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động của Cty là có căn cứ, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn là Cty Bình Tiên kháng cáo và yêu cầu giám định lại chữ ký trong “Đơn xin nghỉ việc (BL180)” của ông V. Tại Kết luận giám định số 806/KL-KTHS, ngày 27/02/2026 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chữ ký so sánh và “Đơn xin nghỉ việc” là do cùng một người ký ra. Do đó có cơ sở xác định ông V có ký đơn xin nghỉ việc nộp tại Cty.

Bị đơn Cty Bình Tiên cho rằng, trên cơ sở đơn xin nghỉ việc của ông V nên ngày 22/08/2018 thì Cty đã ban hành Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 và đã giao Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động cho ông V qua đường bưu điện và thông báo trên mạng nội bộ Cty, nhưng Cty không cung cấp được chứng cứ chứng minh, còn ông V không thừa nhận.

Tại Biên bản làm việc ngày 26/6/2018 giữa đại diện Cty với ông Nguyễn Bá V về việc “Giải quyết đơn xin nghỉ việc” của ông V (BL179) thể hiện ông V có đơn xin nghỉ việc và tại phiên tòa ông V cũng thừa nhận do công việc nhiều, không có người hỗ trợ nên ông không muốn tiếp tục làm việc tại Cty mà có nguyện vọng xin nghỉ việc. Trong thời gian bàn giao công việc thì Công ty phát hiện ông V đã phối hợp với nhà cung cấp sửa chữa khuôn kê giá và số lượng để chiếm đoạt số tiền 80.000.000 đồng của Công ty; cụ thể là Công ty Khuôn mẫu Toàn Cầu do ông Sơn Khánh H đại diện.; thể hiện tại “Biên bản làm việc nhân sự” ngày 06/08/2018, ông V thừa nhận đã nhận tiền 80 triệu đồng của đối tác và hứa sẽ bồi thường lại số tiền trên cho Cty.

Sau khi ông V nhiều lần cam kết bồi thường số tiền chiếm đoạt (Ông Việt viết 04 Bản cam kết), nhưng ông V vẫn không thực hiện nên Cty đã làm đơn tố giác đến Cơ quan công an đề nghị xử lý. Tại Thông báo về việc xử lý đơn ngày 28/01/2019 (BL 71) của Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (cũ) trả lời “Không có dấu hiệu tội phạm” nên không xử lý.

Như vậy; căn cứ các tài liệu, lời trình bày của các đương sự, có cơ sở xác định ông V có nhu cầu nghỉ việc và có đơn xin nghỉ từ ngày 22/06/2018 (Cty có Biên bản làm việc với ông V) và đến ngày 22/08/2018 ông V tiếp tục gửi đơn xin nghỉ việc nộp tại Cty. Ngày 30/8/2018 Cty đã ban hành Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN đối với ông V. Tuy ông V không thừa nhận có nhận được Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN, đồng thời Cty cũng không có chứng cứ chứng minh đã giao Quyết định trên cho ông V. Tuy nhiên căn cứ vào đơn xin nghỉ việc của ông V gửi Cty thể hiện tại (Biên bản làm việc V/v giải quyết đơn xin nghỉ việc ngày 26/6/2018) và Đơn xin nghỉ việc ngày 22/08/2018 đã thể hiện ông V đã chủ động xin nghỉ việc và ông cũng thừa nhận không có nhu cầu tiếp tục làm việc tại Cty; trên cơ sở Đơn xin nghỉ việc Cty đã ban hành Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động đối với ông V là đúng quy định và đúng nguyện vọng của ông V.

Xét việc Cty ban hành Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động nhưng không giao cho ông V là thiếu sót, nhưng thấy rằng tại thời điểm này ông V đang chiếm đoạt của Cty số tiền 80 triệu đồng nhưng không khắc phục bồi thường và Cty đã tố giác ông V đến cơ quan Công an. Tại Đơn xin nghỉ việc Thể hiện nội dung cam kết của ông V: “…Thực hiện bàn giao đầy đủ các dụng cụ làm việc, hồ sơ, sổ sách, tài liệu cho người thay thế, thanh toán các khoản nợ (nếu có)…”, nhưng ông V không thực hiện. Mặt khác, trong thời gian này ông V cũng không chứng minh được mình có đến Cty và có yêu cầu Cty giải quyết chế độ, quyền lợi của mình; trong khi đó Cty cho rằng số tiền giải quyết chế độ cho ông V thấp hơn số tiền 80 triệu mà ông V đã chiếm đoạt, đồng thời Cty cũng đã tính toán số liệu để thanh toán chế độ và đã chốt sổ bảo hiểm nhưng ông V không đến Cty và cũng không có yêu cầu nên Cty không tiến hành chi trả cho ông V được.

Từ cơ sở trên; Xét thấy Công ty Bình Tiên ban hành Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 đối với ông V là theo đơn và nguyện vọng của ông V, đây không được xem là đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động của Cty đối với người lao động. Việc Cty ban hành Quyết định nhưng không chứng minh đã giao cho ông V là thiếu sót, không thực hiện đúng quy định; tuy nhiên như đã nhận định, Cty ban hành Quyết định là theo đơn và đơn ông V nộp cho Cty lần 1 vào ngày 26/6/2018 và lần 2 vào ngày 22/08/2018 nên ông V cho rằng Cty đơn phương chấm dứt Hợp đồng và yêu cầu bồi thường là không có căn cứ chấp nhận.

Công ty ban hành Quyết định chấm dứt Hợp đồng theo yêu cầu, nguyện vọng nên phải thanh toán các khoản thanh toán chế độ thôi việc, bảo hiểm cho ông V theo quy định các khoản sau:

+ Trả cho ông Nguyễn Bá V tiền lương những ngày (01 tháng) tạm đình chỉ công việc trái luật là 7.600.000 đồng.

+ Tiền trợ cấp thất nghiệp tương ứng 5 tháng 25 ngày = 39.900.000 đồng.

+ Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai hoàn trả cho ông V số tiền ký quỹ 8.000.000 đồng.

+ 09 ngày phép thường niên tồn 2.280.000 đồng;

Tổng cộng: 57.780.000 đồng;

Đối với Sổ bảo hiểm xã hội Cty cho rằng sau khi ban hành Quyết định cho thôi việc thì Cty đã chốt sổ Bảo hiểm và hiện tại sổ do Cty đang giữ. Do đó Cty có trách nhiệm giao lại sổ Bảo hiểm cho ông V;

Đối với số tiền 80.000.000 đồng ông V thừa nhận chiếm đoạt của Cty; tại cấp sơ thẩm, ông V tự nguyện đồng ý trả lại cho bị đơn số tiền trên, nên tòa cấp sơ thẩm ghi nhận là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử không có kháng cáo nên ghi nhận sự tự nguyện của ông V.

Về chi phí tố tụng: căn cứ Điều 161, 162 Bộ luật tố tụng dân sự; ông V phải chịu số tiền chi phí giám định là 2.002.000 (hai triệu không trăm lẻ hai nghìn) đồng, số tiền này ông V đã nộp và 4.711.000 đồng chi phí giám định lần 2 Cty đã nộp nên ông V phải trả lại Cty Bình Tiên Đồng Nai số tiền 4.711.000 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải chịu án phí lao động sơ thẩm số tiền là: 57.780.000 đồng x 5% = 3.047.000 đồng; ông V không phải chịu;

Án phí phúc thẩm: Cty Bình Tiên không phải chịu, trả lại Cty Bình Tiên số tiền tạm ứng án phí đã nộp;

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1,2 Điều 308; Điều 161, 162 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận kháng cáo của Cty TNHH Bình Tiên Đồng Nai. Sửa một phần Bản án Lao động sơ thẩm số 22/LĐ-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai;

- Căn cứ khoản 2 Điều 20, Điều 37, Điều 47, 48, Điều 90, Điều 129, khoản 2 Điều 202 Bộ lao động năm 2012; Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 và Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 của Chính phủ; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá V:

- Tuyên Quyết định Tạm đình chỉ công việc số 2288/QĐ-BTĐN ngày 24/07/2018, Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2377/QĐ-BTĐN ngày 07/08/2018, Quyết định về việc gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2481/QĐ-BTĐN ngày 21/8/2018 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành là trái pháp luật

Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải trả cho ông Nguyễn Bá V các khoản sau:

+ Trả cho ông Nguyễn Bá V tiền lương những ngày tạm đình chỉ công việc là 7.600.000 đồng.

+ Tiền trợ cấp thất nghiệp tương ứng 5 tháng 25 ngày = 39.900.000 đồng.

+ Trả cho ông V số tiền ký quỹ 8.000.000 đồng

+ 09 ngày phép thường niên tồn 2.280.000 đồng;

Tổng cộng 57.780.000 đồng (Năm mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng);

Đối với Sổ bảo hiểm xã hội Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai cho rằng sau khi ban hành Quyết định cho thôi việc thì Công ty đã chốt sổ Bảo hiểm và hiện tại sổ do Công ty đang giữ. Do đó Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai có trách nhiệm giao trả lại sổ Bảo hiểm cho ông V;

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bá V về việc:

2.1. Tuyên Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 609/QĐ-BTĐN ngày 30/8/2018 do Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai ban hành là trái pháp luật.

2.2. Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải thanh toán cho ông V: tiền lương trong những ngày không được làm việc là 349.600.000 đồng (ba trăm bốn mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng); bồi thường hai tháng tiền lương là 15.200.000 (mười lăm triệu hai trăm nghìn) đồng; thanh toán số tiền 11.400.000 (mười một triệu bốn trăm nghìn) đồng do vi phạm thời hạn báo trước;

2.3. Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải truy đóng các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội cho ông V trong những ngày không được làm việc từ tháng 8/2018 đến tháng 6/2022 theo quy định pháp luật và trả sổ bảo hiểm cho ông Nguyễn Bá V. Ông Việt và Công ty Bình Tiên Đồng Nai có nghĩa vụ liên hệ Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai thực hiện việc truy đóng các khoản BHXH từ tháng 8/2018 đến tháng 6 năm 2022 theo quy định.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá V về việc tuyên Quyết định tạm đình chỉ công việc số 2288/QĐ-BTĐN ngày 23/7/2018; Các Quyết định gia hạn thời gian tạm đình chỉ công việc số 2377 ngày 08/8/2018, Quyết định số 1551 ngày 01/7/2019, Quyết định số 1580 ngày 16/7/2019, Quyết định số 1948 ngày 01/8/2019, Quyết định số 1949 ngày 16/8/2019, Quyết định số 1950 ngày 01/9/2019, Quyết định số 1951 ngày 16/9/2019 là trái quy định pháp luật.

4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá V đối với các nội dung sau: Buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán số tiền phép thường niên tồn 2.630.760 đồng; buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai thanh toán cho ông V tháng lương thứ 13 của các năm: 2018, 2019, 2020, 2021, 2022, 2023, 2024 là: 7600.000 x 7 = 53.200.000; buộc Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai truy đóng phí công đoàn cho ông V từ tháng 8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm;

5. Ông Nguyễn Bá V có trách nhiệm trả lại cho Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng);

6. Về chi phí tố tụng: ông Nguyễn Bá V phải chịu số tiền chi phí giám định là 2.002.000 (Hai triệu không trăm lẻ hai nghìn) đồng (số tiền này ông V đã nộp) và trả lại cho Cty TNHH Bình Tiên Đồng Nai số tiền 4.711.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm mười một ngàn đồng) tiền Cty Bình Tiên Đông Nai đã nộp chi phí giám định lần 2;

7. Về án phí:

7.1. Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai phải chịu án phí lao động sơ thẩm là: 3.047.000 đồng; được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 375.000 đồng, theo biên lai thu số 0000712 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1- Đồng Nai);

7.2. Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai không phải chịu án phí phúc thẩm, trả lại Công ty TNHH Bình Tiên Đồng Nai số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0007764, ngày 21/07/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (Nay là thành phố Đồng Nai);

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng, bên có nghĩa vụ phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ