- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trần Việt L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2026/HSST Ngày 20-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tám
Ông Hồ Sĩ Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký của Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đoàn Văn Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 188/2025/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Lê Trần Việt L, sinh ngày 19-05-2005 tại Ninh Bình; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ dân phố L, phường L, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở: Số A L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Trần Thị S; Tiền án - Tiền sự: không; Bị bắt ngày 17 tháng 07 năm 2025; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam P – Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (bị cáo có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn N, sinh năm 1973 – Địa chỉ: Số A L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 17-07-2025, tại khu vực trước số nhà A V, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh; Công an phường V, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Lê Trần Việt L thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Trần Việt L khai nhận: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 17-07-2025, anh H gọi qua ứng dụng Z tên tài khoản “Anh trai” số điện thoại liên kết 0333204099 nói L chạy xe đi ra ngã tư B thuộc phường T, Thành phố Hồ Chí Minh “lấy đơn đi giao đơn” (L hiểu lấy ma túy đi giao cho khách) thì L đồng ý. Sau đó, L sử dụng xe mô tô biển số 63B6-093.70 chạy đến địa điểm trên thấy H ngồi ở quán bún vỉa hè nên L đi vào ngồi cạnh, H đưa cho L 01 phong bao lì xì, màu vàng, có chữ “VERSACE” (bên trong có 01 gói ma túy đá). L bỏ gói ma túy vào túi quần bên trái rồi chạy xe đi giao cho khách tại trước khu vực Siêu thị L1 trên Đường C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 22 giờ 00 phút ngày 17-07-2025, khi L đến khu vực trước số nhà A V, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Ngoài ra, L khai còn bán ma túy cho Võ Anh T 02 lần và bán cho Võ Lâm T1 01 lần. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 15-5-2025, Lê Trần Việt L bán cho Võ Anh T (sinh năm 1994, nơi cư trú: Tổ A, Ấp A, xã X, tỉnh Đồng Nai) 01 chấm khay và 01 viên thuốc lắc với giá 1.000.000 đồng; hai bên giao dịch mua bán ma túy tại trước nhà số G B, phường R, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lần thứ hai: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17-07-2025, L tiếp tục hẹn bán cho Võ Anh T 01 chấm khay và 01 viên thuốc lắc với giá 1.000.000 đồng; hai bên giao dịch mua bán ma túy tại trước nhà số G B, phường R, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, T nhận được 01 chấm khay, còn 01 viên thuốc lắc thì chưa nhận, nên T đưa 700.000 đồng tiền mặt cho L.
Lần thứ ba: Vào khoảng 23 giờ 20 phút ngày 14-07-2025, L bán cho Võ Lâm T1 01 gói ma túy khay với giá 2.700.000 đồng; giao dịch mua bán ma túy tại trước khách sạn A (không rõ địa chỉ) thuộc phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả làm việc với Võ Anh T và Võ Lâm T1 đều khai nhận các lần mua bán ma túy, số tiền mua bán ma túy, thời gian, địa điểm phù hợp với lời khai của Lê Trần Việt L.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 viên “Kẹo” còn nguyên vẹn và 01 mẩu viên “Kẹo” đều màu vàng, có in hình logo Vương M để trong 01 phong bao lì xì màu vàng, có dòng chữ “VERSACE”;
- 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 12 PRO MAX, màu xám, gắn sim số thuê bao 0937411045;
- 01 xe máy hiệu YAMAHA EXCITER, màu xanh trắng, biển số 63B6-093.70.
Bản kết luận giám định số 1283/KL-KTHS-MT ngày 04 tháng 07 năm 2025 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “Mẫu A có khối lượng 0,5428 gam, là ma túy loại MDMA. Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.”
Đối với người thanh niên có tên tài khoản Z “Anh Trai”; “anh H”; Tiền G, Gò C (liên kết Zalo số điện thoại 0333204099) là người chỉ đạo L đi giao bán ma túy cho khách. Qua xác minh, số điện thoại 0333204099 trên do đối tượng Nguyễn Quốc H hiện đang bị khởi tố, tạm giam về hành vi mua bán trái phép chất ma túy trong vụ án khác sử dụng. Kết quả làm việc, H khai có sử dụng số điện thoại trên nhưng từ tháng 3/2025 H bán số điện thoại trên cho người có tên Long Ba C1 (không rõ họ tên địa chỉ). Kết quả đối chất giữa H và L, H khai không biết L, không chỉ đạo L đi bán ma túy cho khách vào ngày 17-07-2025 như lời khai của L. Kiểm tra nội dung tin nhắn trên zalo hầu hết đã bị thu hồi và không rõ ràng, không liên quan đến Nguyễn Quốc H nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật.
Đối với Võ Lâm T1, sinh năm 2005, nơi cư trú: Số A N, ấp P, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; là người mua ma túy của L. Hành vi Võ Lâm T1 mua ma túy của L về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Cơ quan điều tra Công an Thành phố H khởi tố, bắt tạm giam và xử lý trách nhiệm hình sự trong một vụ án khác.
Đối với Võ Anh T, sinh năm 1994, nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã X, tỉnh Đồng Nai; là người mua ma túy của L; hiện đang chấp hành cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng tại cơ sở cai nghiện số 6, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 66/2025/QĐ-TA ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKSKV11 ngày 13-12-2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Trần Việt L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo Lê Trần Việt L thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo L mức án từ 08 năm đến 09 năm tù giam. Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 12 PRO MAX, 01 xe máy hiệu YAMAHA EXCITER, màu xanh trắng, biển số 63B6-093.70 do bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo xác định bị bắt quả tang vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 17-07-2025 khi đang thực hiện hành vi mua bán trái phép 0,5428 gam ma túy loại MDMA tại khu vực trước số nhà A V, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo còn thừa nhận trước khi bị bắt đã hai lần bán ma túy đá cho Võ Anh T với giá 1.000.000 đồng/1 lần tại địa chỉ trước số nhà G B, phường R, Thành phố Hồ Chí Minh; một lần bán ma túy đá cho Võ Lâm T1 với giá 2.700.000 đồng vào ngày 14-07-2025 tại khu vực khách sạn A thuộc phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và những đối tượng có liên quan trong vụ án, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa.
Xét bị cáo nhiều lần bán trái phép chất ma tuý, nên hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung hình phạt phạm tội hai lần trở lên (Luật số 86/2025/QH15 ngày 25-06-2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác; ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú về hành vi phạm tội trước đó; nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 phong bì niêm phong vụ số 1283 ngày 24-07-2025 của Phòng K Công an Thành phố H (Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động, hiệu IPHONE 12 PRO MAX, màu xám, gắn sim số thuê bao 0937411045; là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn N (cha bị cáo), ông N không biết bị cáo mượn sử dụng liên lạc liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho ông N;
- 01 xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITER, màu xanh trắng; biển số 63B6-093.70, số khung RLCE55P1ODY216881, Số máy 55P1-216898. Kết quả xác minh xác định chủ sở hữu xe trên là ông Cao Hồng Đ, sinh năm 1986, nơi cư trú: Số D, tổ C, khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Nai; ông Đ xác định đã bán chiếc xe trên cho một thanh niên không rõ nhân thân. Bị cáo L đã mua lại chiếc xe này làm phương tiện đi lại và sử dụng đi mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 17-7-2025. Cơ quan điều tra đã Thông báo truy tìm chủ sở hữu trên Báo Công an Thành phố H ngày 10-10-2025, đến thời điểm hiện tại không có ai tranh chấp, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trần Việt L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Lê Trần Việt L 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 07 năm 2025.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng niêm phong số 1283 ngày 24-07-2025;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITER, màu xanh trắng; biển số 63B6-093.70, số khung RLCE55P1ODY216881, Số máy 55P1-216898.
- Trả lại ông Lê Văn N 01 điện thoại di động, hiệu IPHONE 12 PRO MAX màu xám đã qua sử dụng, gắn sim số thuê bao 0937411045, không kiểm tra được Imeil.
Vật chứng nêu trên Phòng thi hành án dân sự Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 28/BB-PTHADS ngày 18-12-2025.
5. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. +
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - Công an TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 11, TP. Hồ Chí Minh; - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11, TP. Hồ Chí Minh; - Phân trại tạm giam Phước Thắng – Trại tạm giam số 1, Công an TP. Hồ Chí Minh; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thanh Hảo |