vanban.org

Bản án 11/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 26/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Tấn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Tấn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tấn T nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng ma túy Trần Tấn T - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Tấn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2026/HS-ST
Ngày 26-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Hoàng Hiệp

Bà Đàm Thị Thanh Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tại – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Tấn T, sinh ngày 29/12/2005 tại xã T, thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Hồ Thị Mỹ T1; vợ con chưa có; tiền án: Không, tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 03/4/2025 bị UBND thị xã N, tỉnh Sóc Trăng xử phạt hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương cao (dao), tiền sự này chưa được xóa; nhân thân: Không có án tích; bị bắt tạm giam trong một vụ án khác theo lệnh bắt tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Tấn T là đối tượng nghiện ma túy, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) ra Quyết định số 147/QĐ-UBND ngày 17/4/2025, áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời gian cai nghiện từ ngày 17/4/2025 đến ngày 17/4/2026. Đến ngày 25/7/2025, T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/7/2025, Trần Văn N, sinh ngày 29/4/2004, cư trú: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ rủ T qua nhà N nhậu thì T đồng ý. Khi qua đến nhà N thì cả hai nhậu cùng với nhau đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì nghỉ nhậu. Tại đây, N hỏi T là “chơi không” (tức là sử dụng ma túy) thì T nói “không chơi đâu, về rồi”, N tiếp tục nói với T “chơi đi có nè” rồi N đi ra chuồng heo phía sau nhà lấy dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting và 01 cái nỏ gắn sẵn vào nắp chai nhựa có chứa chất ma túy, N nói với T “chơi đi, mai tao đi Bình Dương rồi” thì T đồng ý nên cả hai đi đến khu vực bụi chuối gần đó để sử dụng ma túy. Khi đi đến nơi, N dùng hộp quẹt đốt nóng ma túy lên rồi cả hai thay phiên nhau hút được 03 hơi thì hết ma túy nên cả hai nghỉ, N đem dụng cụ ma túy cất giấu còn T thì điều khiển xe về nhà.

Đến ngày 27/7/2025 Công an xã T tiến hành mời T lên trụ sở để test kiểm tra chất ma túy trong cơ thể định kỳ hàng tháng. Qua kiểm tra Công an phát hiện T dương tính với ma túy loại Methemphetamine nên tiến hành lập biên bản vi phạm đối với T. Đồng thời thu mẫu nước tiểu của T phục vụ cho việc trưng cầu giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 243/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận: Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKS-KV7 ngày 16/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ đã truy tố bị cáo Trần Tấn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Tấn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Án phí bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa và quá trình điều tra vụ án bị cáo Trần Tấn T đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Tấn T đang trong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, nhưng đã không chấp hành nghiêm túc việc cai nghiện, vì muốn thõa mãn cơn nghiện nên ngày 25/7/2025 bị cáo đã có hành vi sử dụng ma túy, đến ngày 27/7/2025 khi Công an xã tiến hành mời lên để kiểm tra test ma túy thì bị cáo dương tính với ma túy đá, nên cơ quan Công an đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của bị cáo và trưng cầu giám định theo quy định và theo Kết luận giám định số: 243/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận: Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo là sử dụng trái phép chất ma túy khi bị cáo đang trong thời hạn cai nghiện ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng số 44/CT-VKS-KV7, ngày 16/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo về tội danh “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điều khoản của luật đã được viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo tuy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn nhưng đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy không chỉ gây tác hại đến sức khỏe của chính bị cáo mà còn được xem là mối hiểm họa, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, nhưng có 01 tiền sự bị xử phạt tiền về hành vi mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương cao (dao), tiền sự này chưa được xóa. Về tình tiết tăng nặng, không có. Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét đề nghị của Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết giảm nhẹ nêu trên đều có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng một hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tuân thủ pháp luật và có ích cho xã hội sau này.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát về áp dụng pháp luật, mức hình phạt, án phí đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với ông Trần Văn N, bị cáo T khai số ma túy bị cáo sử dụng là do ông N cung cấp. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được với ông N, nên chưa xử lý được. Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ về hành vi của ông N, nếu chứng minh được hành vi cung cấp ma túy cho bị cáo sử dụng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Tấn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Tấn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tấn T nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ