- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn Láo L Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2026/HS-ST Ngày 26 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lý Thị Minh Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân và bà Vũ Thị Lan Hương
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2025/TLST- HS ngày 22 tháng 12 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2026/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 01 năm 2026, Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 03/2026/QĐ-TA ngày 26/01/2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tẩn L - Sinh ngày 11 tháng 8 năm 1998 tại Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Tẩn Duần S và bà Lý San M; Có vợ là Chảo Tả M1 và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 04/11/2025, hiện tạm giam tại trại tạm giam số 1 công an tỉnh L. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị T, Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 04/11/2025, Tẩn L một mình điều khiển xe mô tô BKS 24S1-113.20 đi từ nhà đến phường L, tỉnh Lào Cai mục đích tìm việc làm. Trên đường đi, Tẩn L nảy sinh ý định mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Tẩn Láo L điều khiển xe vào thôn Bản Dền, xã B, tỉnh Lào Cai thì gặp một người nam giới không rõ lai lịch đang đứng ven đường, Tẩn L mua được 01 gói giấy bạc, bên trong có 03 gói nilon đều chứa ma tuý heroine với giá 300.000 đồng. Lở cất gói giấy bạc vào trong túi quần tiếp tục điều khiển xe mô tô xuống phường L tiếp tục đi tìm việc. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi đến khi vực đường H, phường L bị tổ phòng chống tội phạm Công an phường L, tỉnh Lào Cai phát hiện và yêu cầu kiểm tra. Trước sự có mặt của người chứng kiến, Tẩn L tự giác giao nộp 01 gói giấy bạc màu trắng cho tổ công tác, mở kiểm tra bên trong có 3 gói nilon đều chứa chất bột khô, màu trắng, Tẩn L khai là ma tuý Heroine vừa mua được mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Kết luận giám định số 772/KL-KTHS ngày 06/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 0,607 (Không phẩy sáu trăm linh bảy) gam chất bột khô, màu trắng gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (H).
Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 19/12/2025 của VKSND khu vực 6 - Lào Cai truy tố Tẩn Láo Lở về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai trình bày lời luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Tẩn Láo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; và Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn Láo L với mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo là lao động chính trong gia đình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Tẩn Láo L 03 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, xin được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội của tang, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Tẩn Láo L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe và hiểu biết xã hội, pháp luật. Tuy nhiên do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng bản thân và coi thường pháp luật nên ngày 04/11/2025, bị cáo đã đi mua 0,607 gam ma túy Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Tẩn Láo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và phải chịu trách nhiệm với 0,607g ma tuý bị thu giữ. Vì vậy, bản Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 19/12/2025 của VKSND khu vực 6 - Lào Cai truy tố bị cáo Tẩn Láo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ Nhà nước nghiêm cấm việc tàng trữ trái phép chất ma tuý dưới mọi hình thức, đồng thời thấy rõ tác hại của ma tuý đối với cộng đồng và xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về vật chứng vụ án:
Đối với vật chứng gồm:
-0,459 gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 03 mảnh nilon và vỏ bì niêm phong ban đầu gửi giám định,
Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
-Đối với chiếc xe mãy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS 24 S1 -116.20, quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là tài sản riêng của chị Chảo Tả M1, Chị M1 không biết bị cáo sử dụng xe máy để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về các vấn đề khác:
Đối với người bán ma túy cho bị cáo Tẩn Láo L theo lời khai của bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này; ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu khác để chứng minh nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Tẩn Láo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Tẩn Láo L 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 04/11/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Tịch thu tiêu hủy:
-0,459 (không phẩy bốn trăm năm mươi chín) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng; 03 (ba) mảnh nilon và vỏ niêm phong ban đầu gửi giám định. Trên một mặt của bì niêm phong này có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Tẩn Láo Lở tại tổ dân phố số F K, phường L, tỉnh Lào Cai ngày 04/11/2025”.
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Tẩn Láo L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, KV6 LC; - Cơ quan CSĐT CAT; - THAHS; CA phường Lào Cai - Phòng PV 06 CAT; - Bị cáo; - T.H.A DS; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lý Thị Minh Yên |