- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án 11 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NINH BÌNH Bản án số: 11/2026/HS-ST Ngày: 03-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quang Văn; Ông Lương Mạnh Tường.
- Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trương Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2026/TLST- HS ngày 15 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2026, đối với các bị cáo:
1. Lương Bá S sinh ngày 15 tháng 6 năm 1981 tại tỉnh Ninh Bình; số CCCD: 037081003682; Nơi cư trú: Thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lương Ngọc L và bà Lương Thị P; Vợ bị cáo là Nguyễn Thị H (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân (3): Tại bản án số 39/2007/HSST ngày 25/5/2007 của TAND thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) xử phạt Lương Bá S 36 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Ngày 21/7/2009 Lương Bá S chấp hành toàn bộ bản án. Tại bản án số 39/2009/HSST ngày 10/11/2009 của TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (nay là TAND Khu vực 3 tỉnh Ninh Bình) xử phạt Lương Bá S 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 03/11/2011 Lương Bá S chấp hành toàn bộ bản án. Tại bản án số 174/2012/HSST ngày 20/12/2012 của TAND tỉnh Ninh Bình xử phạt Lương Bá S 7 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 30/01/2019 Lương Bá S chấp hành xong toàn bộ bản án. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/08/2025 đến ngày 14/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh N.(có mặt)
2. Phạm Đức T sinh ngày 21 tháng 9 năm 1999 tại tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 017099000446; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12; Con ông Phạm Đức H1 và bà Bùi Thị R; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/08/2025 đến ngày 14/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh N.(có mặt)
3. Vũ Văn L1 sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964 tại tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 017064002906; Nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã A, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/10; Con ông Vũ Văn B và bà Quách Thị T1; Vợ là Vũ Thị V(đã chết); Bị cáo có 06 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 10/3/2022, Công an phường Q, tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) ra Quyết định số 153 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Văn L1 bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đến nay L1 chưa chấp hành xong khoản tiền phạt trên. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/08/2025 đến ngày 14/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh N.(có mặt)
4. Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đức T: Ông Phạm Duy H2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt
5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Phạm Đức H1 sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn H, xã A, tỉnh Phú Thọ
(vắng mặt).
- Anh Vũ Văn H3, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn N, xã A, tỉnh Phú Thọ(vắng mặt).
6. Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Ú, ông Nguyễn Xuân T2. (vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu sài, Lương Bá S đã nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/8/2025, S một mình đi bộ theo đường ruộng từ nhà ở thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình đến xã Y, tỉnh Phú Thọ với mục đích tìm mua ma túy. Khi đến khu vực cánh đồng giáp với đường Q thuộc xã Y, gặp một người nam giới (S không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) S đi lại gần nói: “Anh có ma túy H4 không bán cho tôi” người nam giới này hiểu ý trả lời: “Có, anh muốn lấy bao nhiêu”, S lại hỏi: “Bao nhiêu một gói”, người nam giới nói: “Ba trăm nghìn một gói”, S bảo: “Cho em mua bảy gói”, người nam giới bảo S: “Đưa tiền đây”. S lấy số tiền 2.100.000 đồng ra đưa cho người nam giới, sau khi cầm đủ tiền của S, người nam giới đưa lại cho S 07 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, S kiểm tra bên trong đều có chất bột dạng cục màu trắng xác định đúng là ma túy, loại Heroin nên S gói lại cất giấu vào túi quần rồi đi bộ về nhà. Khi về đến nhà ở thôn N, xã N, S lấy 07 gói ma túy vừa mua được cho vào 01 túi ni lông màu trắng có gờ mép màu đỏ và cất giấu trong tủ gỗ đựng quần áo kê ngoài phòng khách với mục đích nếu có ai hỏi mua thì bán.
Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 05/8/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T sử dụng điện thoại di động nhãn OPPO màu đen, bên trong lắp sim thuê bao thuê bao 0339.542.226 gọi đến đến số thuê bao 0386.776.225 của L1 (T và L1 có mối quan hệ quen biết nhau), hỏi L1: “Ông đang ở đâu vậy”, L1 trả lời: “Đang đi uống thuốc”, T nói: “Ông lấy hộ con gói ma túy năm trăm được không” – ý T nhờ L1 mua cho T 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 500.000 đồng, L1 đồng ý nói: “Ừ, xuống chỗ sau nhà thờ đi”. Khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WINNERX, màu sơn đen vàng đồng, biển kiểm soát 28L1-192.44 đến khu vực sau nhà thờ thuộc thôn L, xã N gặp L. Tại đây, T đưa cho L1 số tiền 500.000 đồng, L1 cầm tiền nói với T: “Đứng đợi ở đây”. Sau đó, L1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen bên trong lắp sim số thuê bao 0386.776.225 gọi đến số thuê bao 0825.082.569 của Lương Bá S để hỏi mua ma túy, L1 nói: “Có ma túy không, cho anh mua một gói năm trăm nghìn”, S đồng ý, nói: “Có, chạy lên chỗ đầu đường P em bán cho”. Khoảng 07 giờ 05 phút cùng ngày, L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, biển kiểm soát 48F8-9020 đi đến đường P thuộc địa phận thôn N, xã N thì nhìn thấy S đang đi bộ trên đường, khi gặp nhau L1 đưa cho S số tiền 500.000 đồng, S cầm tiền và đưa lại cho L1 01 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Sau khi mua được ma túy, L1 điều khiển xe mô tô quay lại khu vực đường nội đồng thôn L, xã N gặp T. Tại đây, L1 đưa cho T 01 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng (L1 không nói gì với T). T cầm lấy gói ma túy mở ra kiểm tra thấy đúng là ma túy, loại Heroine, sau đó T đưa cho L1 01 bơm kim tiêm, 01 nước cất và trích ra một ít ma túy bỏ vào bơm kim tiêm mà T đưa cho L1. Sau đó T gói lại gói ma túy và cầm trên tay phải để mang về nhà sử dụng, còn L1 đã tự pha chế ma túy mà T cho với nước cất rồi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức chích vào cơ thể tại chỗ.
Khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, Tổ tuần tra Công an xã N làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn đã phát hiện thấy T và L1 đang đứng ở khu vực đường nội đồng thôn L, xã N có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu T và L1 đứng yên để kiểm tra. Do sợ hãi nên L1 lấy bơm kim tiêm đang chích ném xuống đất ngay cạnh vị trí L1 đang đứng, định rời đi thì bị Tổ tuần tra yêu cầu đứng lại để kiểm tra. Biết không thể che giấu được hành vi sử dụng ma túy nên L1 đã tự giác khai nhận vật vừa ném xuống đất là kim bơm tiêm đang dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; còn T cũng tự giác giao nộp từ trên tay phải 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ và khai nhận đó là 01 gói ma túy, T mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ tuần tra kiểm tra thì thấy bên trong 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ có chất bột dạng cục màu trắng, tiến hành niêm phong 01 gói nhỏ trên vào phong bì ký hiệu A2 theo quy định của pháp luật. Tổ tuần tra tiến hành thu giữ của L1 01 bơm kim tiêm nhựa màu trắng bên trong còn chất lỏng màu trắng và niêm phong vào một phong bì ký hiệu A1 theo quy định quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Tổ tuần tra thu giữ của T: 01 bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml (chưa sử dụng) được niêm phong vào phong bì ký hiệu A3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xám được niêm phong vào phong bì ký hiệu A4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen được niêm phong vào phong bì ký hiệu A5; 01 xe môtô BKS 28L1-192.44, nhãn hiệu Honda WINNERX, màu sơn đen vàng đồng. Thu giữ của L1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh bên trong lắp sim số 0386.776.225 được niêm phong vào phong bì ký hiệu A6; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, biển kiểm soát 48F8-9020.
Tiến hành kiểm tra các phương tiện là 01 xe môtô BKS 28L1-192.44, nhãn hiệu Honda WINNERX, màu sơn đen vàng đồng thu giữ của T và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, biển kiểm soát 48F8-9020 của L1, Tổ tuần tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Sau đó, Công an xã N đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Bá S ở thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình. Kết quả: Thu giữ trong tủ gỗ đựng quần áo kê ở gian phòng khách 01 túi ni lông màu trắng có gờ mép màu đỏ bên trong túi ni lông, có chứa 06 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong các gói nhỏ đều có chất bột dạng cục màu trắng, các gói này được niêm phong vào phong bì ký hiệu K1 theo đúng quy định của pháp luật. Lương Bá S đã khai nhận 06 gói nhỏ thu giữ trên đều là ma túy, loại Heroine được S cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời; Đồng thời S lấy từ túi quần phía trước bên phải ra 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng giao nộp cho Cơ quan điều tra, S khai nhận đó là tiền S bán ma túy cho Vũ Văn L1 ngày 05/8/2025; Ngoải ra, S còn tự giác giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh, bên trong lắp sim số thuê bao 0825.082.569 mà S đã dùng để liên lạc, bán ma túy cho L1.
Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy mẫ`u nước tiểu của Phạm Đức T, Vũ Văn L1 và Lương Bá S để kiểm tra. Kết quả kiểm tra T và L1 dương tính với ma túy H4; Lương Bá S âm tính với các chất ma túy.
Quá trình điều tra đã xác định Vũ Văn L1 là đối tượng đang tự nguyện điều trị Methadone tại Trung tâm y tế N, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Vũ Văn L1, Tại Kết luận giám định số 377 ngày 11/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Tìm thấy 6-Monoacetylmorphine và Morphine trong mẫu nước tiểu thu của Vũ Văn L1, ký hiệu M9 gửi giám định.
6-Monoacetylmorphine và M là sản phẩm chuyển hóa của H4 (H). Heroine (H5) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ Luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự thứ 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ” Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định là chất bột dạng cục màu trắng có trong 01 gói ma túy thu giữ của Phạm Đức T và Vũ Văn L1, xác định khối lượng là M1 = 0,2696 gam; Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng của các chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 06 gói ma túy thu giữ của Lương Bá S để gửi giám định về khối lượng và loại chất ma túy với kết quả cân như sau:
Ký hiệu
M2
M3
M4
M5
M6
M7
Khối lượng
0,2078
0,2083
0,3111
0,2280
0,2061 0,2360
(gam) Tất cả các mẫu trên bao gồm các gói từ M1 đến M7 và 01 bơm kim tiêm nhựa màu trắng chứa 0,6ml chất lỏng màu trắng trong suốt ký hiệu M8 được gửi đến V1 - Bộ C1 để tiến hành giám định chất ma túy, hàm lượng chất ma túy có trong dung dịch. Tại bản Kết luận giám định số 6016 ngày 12/8/2025 của V1 - Bộ C1 kết luận: “- Chất lỏng màu trắng trong suốt bên trong bơm kim tiêm nhựa màu trắng ký hiệu M8 gửi giám định là dung dịch Heroine (Heroin); nồng độ Heroin: 21,76ml; Khối lượng Heroine: 0,013 gam.
- Các mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6 và M7 gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
- Heroin (tên khoa học: Diacetylmorrphine) có số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.” H6 lại đối tượng giám định: Đối tượng giám định còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại trong niêm phong số 6016/KL-KTHS theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định. Tiến hành kiểm tra đối với 01 điện thoại di động nhãn OPPO màu đen, bên trong lắp sim thuê bao 0339.542.226 thu giữ của Phạm Đức T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh bên trong lắp sim số 0386.776.225 và sim số 0347.152.577; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh, bên trong lắp sim số thuê bao 0825.082.569 đều phát hiện các cuộc gọi đi và cuộc gọi đến giữa T và L1, các cuộc gọi đi và gọi đến giữa L1 và S, quá trình điều tra xác định các cuộc gọi đi và đến này đều liên quan đến việc mua và bán ma túy, phù hợp với lời khai của S, T và L1
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh từ camera an ninh của Công an xã N tại khu vực đường P, xã N thời điểm S và L1 gặp nhau để giao dịch ma túy vào 01 tập tin video tên “D08_20250805070221.mp4 (ký hiệu A) gửi trưng cầu giám định kỹ thuật số. Tại bản kết luận giám định số 1815/KL-KTHS ngày 21/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong toàn bộ mẫu cần giám định (ký hiệu A)”
Quá trình điều tra, Lương Bá S, Phạm Đức T và Vũ Văn L1 và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cùng đồng phạm như nội dung trên.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSKV3 ngày 14 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình để xét xử bị cáo Lương Bá S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Phạm Đức T và Vũ Văn L1 để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Ninh Bình vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Bá S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố các bị cáo Phạm Đức T và Vũ Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
* Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Bá S.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Đức T và Vũ Văn L1.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lương Bá S từ 04 năm tù đến 4 năm 6 tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/08/2025. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn L1 từ 3 năm 6 tháng tù đến 4 năm tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/08/2025.
Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Đức T từ 3 năm 6 tháng tù đến 4 năm tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/08/2025.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen, thu giữ của Vũ Văn L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xám không lắp sim thuê bao thu giữ của Phạm Đức T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh thu giữ của Lương Bá S.
Trả lại cho bị cáo Phạm Đức T: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, biển kiểm soát 48F8-9020, số khung: HOPD6A 004619, số máy FMH36A004619, quá trình điều tra xác định là tài sản của Vũ Văn L1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WINNERX, màu sơn đen vàng đồng, biển kiểm soát 28L1-192.44, số khung RLHKC3710MY116645, số máy KC34E1239295 có đăng ký xe mang tên Phạm Đức T.
Tịch thu tiêu hủy: Sim thuê bao 0386776225, sim số thuê bao 0347152577; sim số thuê bao 0339542226; sim số thuê bao 0825082569; 01 phong bì ký hiệu A3 niêm phong theo đúng quy định của pháp luật trên mặt phong bì ghi bên trong là 01 bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml, chưa qua sử dụng thu giữ của Phạm Đức T; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ gói, phong bì niêm phong cũ K1; 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là các mẫu giám định hoàn lại gồm: M1 là 0,2450 gam; M2 là 0,1216 gam; M3 là 0,1308 gam; M4 là 0,1922 gam; M5 là 0,1778 gam; M6 là 0,1463 gam; M7 là 0,1810 gam; tất cả đều là ma túy, loại Heroine và vỏ phong bì niêm phong cũ; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ gói, phong bì niêm phong cũ K2; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ phong bì niêm phong cũ A1.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của Lương Bá S.
* Về án phí: Các bị cáo Lương Bá S, Phạm Đức T phải chịu theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Văn L1.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Phạm Đức T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 để xét xử bị cáo mức án thấp nhất khung hình phạt quy định.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình. Lời nói sau cùng của các bị cáo biết lỗi về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện, đúng như bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo, cụ thể như sau: Khoảng 07 giờ 05 phút ngày 05/8/2025, tại khu vực đường P thuộc địa phận thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình, Lương Bá S đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 500.000 đồng cho Vũ Văn L1 và Phạm Đức T, đồng thời S còn cất giấu trái phép 1,3973 gam, loại Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 05/8/2025, tại khu vực đường nội đồng thôn L, xã N, tỉnh Ninh Bình. Phạm Đức T cùng đồng phạm là Vũ Văn L1 có hành vi cất giấu trái phép 0,2696 gam, loại Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Bá S, đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1, Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Hành vi của các bị cáo Phạm Đức T và Vũ Văn L1, đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma túy.
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
...................................
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. ”
Điều 249: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán,
vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
………………………
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
………………………
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần chấp nhận.
[3]. Về vai trò, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Về vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo Phạm Đức T và Vũ Văn L1 có sự bàn bạc, góp tiền, cùng nhau đi mua ma túy về với mục đích sử dụng, vì vậy bị cáo T và L1 là đồng phạm với nhau về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đối với bị cáo Lương Bá S, không phải là đồng phạm của T và L1, bị cáo chịu trách nhiệm độc lập về hành vi bán trái phép chất ma túy của mình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Vũ Văn L1 hiện đang có 01 tiền sự, bị cáo Lương Bá S đã từng bị xét xử bằng ba bản án hình sự mặc dù đã được xóa án tích vì vậy bị cáo S và bị cáo L1 bị coi là có nhân thân rất xấu. Bị cáo Phạm Đức T chưa từng bị kết án hoặc xử phạt hành chính vì vậy được coi là có nhân thân tốt.
[4] Về hình phạt: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần phải xử phạt nghiêm minh, buộc các bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo các bị cáo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Lương Bá S mua ma túy nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo S. Đối với các bị cáo Phạm Đức T và Vũ Văn L1 mua ma túy của bị cáo S nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
[5]. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Lương Bá S và số ma túy đã bán cho Vũ Văn L1 và Phạm Đức T, quá trình điều tra S khai mua của một người không quen biết tại cánh đồng giáp với đường Q thuộc xã Y, tỉnh Phú Thọ, S không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này do vậy không có căn cứ điều tra xác minh làm rõ.
Đối với Vũ Văn L1 là người tự nguyện đăng ký điều trị chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm y tế N từ ngày 18/02/2025 đến ngày 05/8/2025 L1 bị bắt quả tang khi đang có hành vi sử dụng chất ma túy bằng hình thức chích trực tiếp vào cơ thể. Hành vi nêu trên của L1 có dấu hiệu của tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Tuy nhiên, quá trình tham gia điều trị nghiện chất thay thế tại Trung tâm y tế N, L1 không được UBND xã xác định tình trạng nghiện theo Luật phòng chống ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan và vật chứng là 01 bơm kim tiêm mà L1 đã sử dụng để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý theo quy định
Trong vụ án này, Phạm Đức T có hành vi khi L1 đi mua ma túy về và đưa cho T, T đã đưa cho Vũ Văn L1 01 kim bơm tiêm, 01 lọ nước cất và một phần ma túy, loại Heroine để L1 sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn L, xã N, tỉnh Ninh Bình có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen thu giữ của Vũ Văn L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xám không lắp sim thuê bao thu giữ của Phạm Đức T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh thu giữ của Lương Bá S là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, biển kiểm soát 48F8-9020, số khung: HOPD6A 004619, số máy FMH36A004619, quá trình điều tra xác định là tài sản của Vũ Văn L1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WINNERX, màu sơn đen vàng đồng, biển kiểm soát 28L1-192.44, số khung RLHKC3710MY116645, số máy KC34E1239295 có đăng ký xe mang tên Phạm Đức T, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Phạm Đức T vì vậy cần trả lại cho bị cáo.
Đối với: Sim thuê bao 0386776225, sim số thuê bao 0347152577; sim số thuê bao 0339542226; sim số thuê bao 0825082569; 01 phong bì ký hiệu A3 niêm phong theo đúng quy định của pháp luật trên mặt phong bì ghi bên trong là 01 bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml, chưa qua sử dụng thu giữ của Phạm Đức T; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ gói, phong bì niêm phong cũ K1; 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là các mẫu giám định hoàn lại gồm: M1 là 0,2450 gam; M2 là 0,1216 gam; M3 là 0,1308 gam; M4 là 0,1922 gam; M5 là 0,1778 gam; M6 là 0,1463 gam; M7 là 0,1810 gam; tất cả đều là ma túy, loại Heroine và vỏ phong bì niêm phong cũ; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ gói, phong bì niêm phong cũ K2; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ phong bì niêm phong cũ A1 là vật chứng của vụ án xét là chất cấm và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của Lương Bá S, đây là số tiền do S bán ma túy cho L1 mà có cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo bị tuyên có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Riêng đối với bị cáo Vũ Văn L1 là người cao tuổi nên bị cáo dược miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Bá S.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Đức T và Vũ Văn L1.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Đ đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Lương Bá S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Đức T và Vũ Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Lương Bá S 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/8/2025. Phạt bổ sung bị cáo 5000.000đ (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
2.2. Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/8/2025.
2.3. Xử phạt bị cáo Vũ Văn L1 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/8/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen thu giữ của Vũ Văn L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xám không lắp sim thuê bao thu giữ của Phạm Đức T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh thu giữ của Lương Bá S.
Trả lại cho bị cáo Vũ Văn L1 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, biển kiểm soát 48F8-9020, số khung: HOPD6A 004619, số máy FMH36A004619. Trả lại cho bị cáo Phạm Đức T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WINNERX, màu sơn đen vàng đồng, biển kiểm soát 28L1-192.44, số khung RLHKC3710MY116645, số máy KC34E1239295 có đăng ký xe mang tên Phạm Đức T.
Tịch thu tiêu hủy đối với: Sim thuê bao 0386776225, sim số thuê bao 0347152577; sim số thuê bao 0339542226; sim số thuê bao 0825082569; 01 phong bì ký hiệu A3 niêm phong theo đúng quy định của pháp luật trên mặt phong bì ghi bên trong là 01 bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml, chưa qua sử dụng thu giữ của Phạm Đức T; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ gói, phong bì niêm phong cũ K1; 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là các mẫu giám định hoàn lại gồm: M1 là 0,2450 gam; M2 là 0,1216 gam; M3 là 0,1308 gam; M4 là 0,1922 gam; M5 là 0,1778 gam; M6 là 0,1463 gam; M7 là 0,1810 gam; tất cả đều là ma túy, loại Heroine và vỏ phong bì niêm phong cũ; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ gói, phong bì niêm phong cũ K2; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ phong bì niêm phong cũ A1.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của Lương Bá S.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Bá S, Phạm Đức T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng). Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Văn L1
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND Khu vực 3- Ninh Bình; - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Ninh Bình; - Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình - Bị cáo; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hương Quỳnh |