vanban.org

Bản án 11/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sinh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sinh T 03 (ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tại Bản án hình sự số 17/2025/HS-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Sinh T chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sinh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sinh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2026/HS-ST
Ngày: 27-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thiện

Ông Nguyễn Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Khắc Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm - Hội trường xét xử, trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng và tại điểm cầu thành phần - Phân trại tạm giam Đ thuộc Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Sinh T, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1996 tại tỉnh Lâm Đồng (trước đây là tỉnh Bình Thuận); Thường trú: Số nhà M đường số N, thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng (Trước đây là Số nhà M đường số N, thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận); Nơi cư trú: Thôn S, xã N, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Xây dựng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng T1 và bà Nguyễn Thị A; bị cáo chưa kết hôn; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 14/8/2025, bị Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xét xử về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 17/2025/HS-ST với mức án 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án, bản án đã có hiệu lực pháp luật và có Quyết định thi hành án hình phạt tù số 19/2025/QĐ-CA ngày 09/10/2025, chưa chấp hành án.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2025 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Nhà số T đường số M, thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 13/10/2025, tại bhà số T đường M, thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng, Công an xã N tiến hành kiểm tra phát hiện Nguyễn Sinh T đang nằm trên võng khu vực phòng phía sau bên trong căn nhà, trên kệ tủ kế bên có bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý. Kiểm tra khu vực xung quanh căn phòng, lực lượng Công an phát hiện bên trong túi áo khoác Jean phía trên, bên phải của T có 01 gói nylon, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Qua làm việc, Nguyễn Sinh T khai nhận 01 gói nylon Cơ quan Công an thu giữ là ma túy của T mua trực tiếp của 01 người đàn ông tên Th (không rõ nhân thân, lai lịch) tại xã H vào ngày 10/7/2025 với giá 1.500.000 đồng, sau đó T mang về nhà ông Nguyễn Văn C (cha của Nguyễn Thị Mỹ Ng - bạn gái T) cất giấu và sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa Nguyễn Sinh T về trụ sở làm việc. Tại Công an xã N, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Qua điều tra: Vào khoảng 14 giờ ngày 10/10/2025, Nguyễn Sinh T có gọi điện thoại cho một người thanh niên tên Th nhà ở xã H để mua ma túy với giá 1.500.000 đồng, Th đồng ý và hẹn T đến khu vực trước chợ Đ xã H. Sau đó T điều khiển xe mô tô sirius màu đen, xanh có biển kiểm soát 60R2-9016 (xe của Nguyễn Thị Mỹ Ng) từ nhà ông C ở thôn Đ, xã N lên xã H gặp Th tại khu vực trước chợ Đ, sau đó Th dẫn T đi đến nhà thờ xã H, lúc đó Th đi đâu T không biết, một lúc sau Th đến đưa cho T 01 bịch ma túy, T đưa Th số tiền 1.500.000 đồng. Mua được ma túy, T bỏ bịch ma túy vào túi trên, trước, bên phải của áo khoác màu xanh, rồi T đem ma túy về nhà ông C. Sau đó T lấy một ít ma túy trong bịch nylon bỏ vào trong nỏ thủy tinh, dùng bật lửa đốt để sử dụng. Sáng ngày 13/10/2025, tại nhà ông C, Tú sử dụng ma túy bằng bộ dụng cụ của mình, đến khoảng 11 giờ 15 phút, lực lượng Công an xã N vào kiểm tra, phát hiện số ma túy trong túi áo khoác của T và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, Công an xã N lập biên bản và mời T về trụ sở để làm việc.

Tại Kết luận giám định số 1035/KL-KTHS, ngày 20/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon có kích thước (13,5x8) cm, được hàn kín ba đầu, một đầu có khóa kéo viền đỏ (ký hiệu là M1) có khối lượng 2,4870 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine; chất màu nâu trắng trong ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu (ký hiệu là M2) có khối lượng 0,0250 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng còn lại sau giám định là 2,4538 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 1035/KL-KTHS, ngày 20/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng.

Tại cáo trạng số: 16/CT-VKSKV17-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Sinh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 53 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Sinh T mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

- 01 cái áo khoác Jean màu xanh, 01 bật lửa màu vàng trắng có chữ “VNLIGHTER”và 01 bật lửa màu trắng, phần đánh lửa màu tím.

- 01 (một) phong bì chứa mẫu vật trước giám định bên trong có 01 gói nylon, được hàn kín, có khóa kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (13,5x8)cm, cùng 2,4538 gam mẫu M1 còn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa cao khoảng 15cm, đường kính đáy chai kích thước khoảng 05cm, nắp chai màu vàng đường kính khoảng 03cm, bên trong chai có chất lỏng trong suốt, trên nắp chai có cắm 01 (một) ống hút màu đỏ trắng và 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phòng một đầu; mẫu M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định; Toàn bộ được niêm phong trong phong bì số 1035, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng.

Đối với người thanh niên tên Th (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Nguyễn Sinh T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sinh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng. Bị cáo không tranh luận, đối đáp gì, trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Sinh T tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 13/10/2025, tại nhà số t đường M, thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng, Công an xã N phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Sinh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine khối lượng 2,512 gam để sử dụng (Theo Kết luận giám định số 1035/KL-KTHS ngày 20/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025. Do đó, Cáo trạng số 16/CT-CKSKV17-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Nguyễn Sinh T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Nguyễn Sinh T thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là tiền đề của tội phạm, hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền để người dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì muốn có ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý với mức án phù hợp có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị xét xử về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 14/8/2025, bản án đã có hiệu lực pháp luật và có Quyết định thi hành án hình phạt tù số 19/2025/QĐ-CA ngày 09/10/2025, chưa chấp hành án. Đây được xem xét là trường hợp bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, vì vậy Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025 cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Sinh T là người không có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Ngày 14/8/2025, bị cáo bị Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xử phạt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 17/2025/HS-ST với mức án 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án, bản án đã có hiệu lực pháp luật và có Quyết định thi hành án hình phạt tù số 19/2025/QĐ-CA ngày 09/10/2025, chưa chấp hành án. Vì vậy, cần tổng hợp hình phạt tù với bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành chung hai bản án theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy:

- 01 cái áo khoác Jean màu xanh, 01 bật lửa màu vàng trắng có chữ “VNLIGHTER”và 01 bật lửa màu trắng, phần đánh lửa màu tím, không còn giá trị sử dụng.

- 01 (một) phong bì chứa mẫu vật trước giám định bên trong có 01 gói nylon, được hàn kín, có khóa kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (13,5x8)cm, cùng 2,4538 gam mẫu M1 còn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa cao khoảng 15cm, đường kính đáy chai kích thước khoảng 05cm, nắp chai màu vàng đường kính khoảng 03cm, bên trong chai có chất lỏng trong suốt, trên nắp chai có cắm 01 (một) ống hút màu đỏ trắng và 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phòng một đầu; mẫu M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định; Toàn bộ được niêm phong trong phong bì số 1035, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng, không còn giá trị sử dụng.

Đối với đối tượng tên Th (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Nguyễn Sinh T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở xử lý sau, vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với ông Nguyễn Văn C, do không có cơ sở chứng minh ông C biết việc T sử dụng ma túy tại nhà ông C nên không đủ căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sinh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sinh T 03 (ba) năm tù.

Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tại Bản án hình sự số 17/2025/HS-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Sinh T chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/10/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) cái áo khoác Jean màu xanh, 01 (một) bật lửa màu vàng trắng có chữ “VNLIGHTER”và 01 (một) bật lửa màu trắng, phần đánh lửa màu tím.

- 01 (một) phong bì chứa mẫu vật trước giám định bên trong có 01 (một) gói nylon, được hàn kín, có khóa kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (13,5x8)cm, cùng 2,4538 gam mẫu M1 còn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa cao khoảng 15cm, đường kính đáy chai kích thước khoảng 05cm, nắp chai màu vàng đường kính khoảng 03cm, bên trong chai có chất lỏng trong suốt, trên nắp chai có cắm 01 (một) ống hút màu đỏ trắng và 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phòng một đầu; mẫu M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định; Toàn bộ được niêm phong trong phong bì số 1035, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng và Phòng thi hành án dân sự khu vực 17 – Lâm Đồng).

3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14:

Bị cáo Nguyễn Sinh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ