- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Võ Thị H; Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2026/DS-ST Ngày: 05-02-2026 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bá Đình Tâm
2. Ông Nguyễn Đức Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bá Văn Nhân, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu 13 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2025/TLST-DS, ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2026/QĐST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1957 (có mặt)
Địa chỉ: số A thôn B, xã B, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã B, tỉnh Lâm Đồng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn S, sinh năm 1952 (có mặt)
Địa chỉ: số A thôn B, xã B, tỉnh Lâm Đồng.
- Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày: Bà Võ Thị H với bà Nguyễn Thị Hồng P là chỗ quen biết với nhau, do bà P khó khăn nên có liên hệ với bà H để vay tổng số tiền là 800.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 08/12/2022 bà H cho bà P vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 28/6/2023 cho bà P vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 08/09/2023 cho bà P vay số tiền 100.000.000 đồng, ngày 27/12/2023 cho bà P vay số tiền 100.000.000 đồng, ngày 02/01/2024 cho bà P vay số tiền 200.000.000 đồng. Mục đích bà P vay số tiền trên dùng để cho người khác vay để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Thời điểm cho vay chồng bà P là ông Nguyễn Ngọc H1 có biết việc bà P vay tiền và dùng số tiền trên để cho người khác vay lãi để hưởng lãi suất chênh lệch. Trong thời gian vay bà Nguyễn Thị Hồng P có trả cho bà H tổng số tiền 250.000.000 đồng. Bà H đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng bà P, ông H1 trả nợ nhưng vẫn không có kết quả.
Do đó, nay bà Võ Thị H khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị Hồng P, ông Nguyễn Ngọc H1 phải cho vợ chồng bà VÕ Thị H, ông Lê Văn S số tiền 550.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P trình bày: Bà xác nhận có vay của bà Võ Thị H tổng số tiền 800.000.000 đồng như bà H trình bày và đã trả được số tiền 250.000.000 đồng. Chữ ký trong các giấy mượn tiền là chữ ký của bà Nguyễn Thị Hồng P. Mục đích bà P vay tiền của bà H2 là để cho người khác mượn lại để hưởng chênh lệch có thêm thu nhập cho gia đình, bà P xác nhận đây là nợ cá nhân tôi, không liên quan đến chồng bà ông Nguyễn Ngọc H1 vì khi vay tiền không có ông H1. Nay nguyên đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng P đồng ý trả cho bà Võ Thị H, ông Lê Văn S số tiền 550.000.000 đồng, không trả tiền lãi. Hiện bà và ông Nguyễn Ngọc H1 là vợ chồng và có đăng ký kết hôn với nhau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn S trình bày: Ông Lê Văn S thống nhất với ý kiến của bà Võ Thị H, số tiền bà H cho bà P vay là tài sản chung của vợ chồng ông nên đề nghị Toà án buộc vợ chồng bà P, ông H1 phải trả cho vợ chồng ông S, bà H số tiền 550.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H1: Vắng mặt và không có ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn thừa nhận khoản vay của bà Võ Thị H là nợ chung của bà và chồng là ông Nguyễn Ngọc H1 nên đồng ý trả số tiền 550.000.000 đồng cho bà Võ Thị H, ông Lê Văn S.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án, tiến hành lập hồ sơ, hoà giải, Toà án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thời gian giải quyết vụ án đảm bảo đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên toà hôm nay, phiên toà tiến hành đúng trình tự pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 86, 227 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72, 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị H, buộc bà Nguyễn Thị Hồng P, ông Nguyễn Ngọc H1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 550.000.000 đồng cho vợ chồng bà Võ Thị H, ông Lê Văn S, không yêu cầu tiền lãi; về án phí: đương sự phải chịu theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Võ Thị H khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P, có địa chỉ ở thôn B, xã B, tỉnh Lâm Đồng yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Ngọc H1 phải trả số tiền 550.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu 13 - Lâm Đồng.
Về việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H1: Ông Nguyễn Ngọc H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Nguyên đơn bà Võ Thị H và bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P đều thừa nhận bà Võ Thị H cho bà Nguyễn Thị Hồng P vay tổng số tiền 800.000.000 đồng cụ thể: Ngày 08/12/2022 bà H cho bà P vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 28/6/2023 cho bà P vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 08/09/2023 cho bà P vay số tiền 100.000.000 đồng, ngày 27/12/2023 cho bà P vay số tiền 100.000.000 đồng, ngày 02/01/2024 cho bà P vay số tiền 200.000.000 đồng; mục đích vay là cho người khác mượn vay lại để hưởng chênh lệch lãi suất để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Trong thời gian vay bà Nguyễn Thị Hồng P có trả cho bà H tổng số tiền 250.000.000 đồng và xác định còn nợ số tiền là 550.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Hồng P đồng ý cùng chồng là ông Nguyễn Ngọc H1 trả số tiền trên cho bà vợ chồng bà Võ Thị H, ông Lê Văn S.
Hội đồng xét xử nhận thấy, ông Nguyễn Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Hồng P là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 31/12/2003, mặc dù tại giấy mượn tiền chỉ có một mình bà P ký và ghi họ tên. Tuy nhiên, thời điểm bà P vay tiền của vợ chồng bà H thì ông H1 và bà P vẫn đang trong thời kỳ hôn nhân, bà P trình bày bà mượn tiền để làm ăn phục vụ kinh tế trong gia đình, ông H1 có biết việc bà vay tiền người khác để đi cho vay lãi để hưởng chênh lệch lãi suất. Như vậy, thể hiện bà P vay mượn tiền là để làm ăn, nuôi con, phát triển kinh tế, tạo ra nguồn thu nhập, phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình nên ông H1 phải có trách nhiệm liên đới cùng bà P trả nợ tiền gốc là 550.000.000 đồng cho vợ chồng bà H, ông S là phù hợp với quy định tại Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Ngọc H1 phải liên đới trả số tiền 550.000.000 đồng cho bà Võ Thị H và Lê Văn S.
Ngoài ra, tại phiên tòa, bà H yêu cầu kể từ khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, vợ chồng bà P, ông H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do Bộ luật Dân sự quy định, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà H để tuyên trong phần quyết định của bản án cho phù hợp.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị H được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Ngọc H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Võ Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 27, Điều 30, Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị H.
Buộc bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Ngọc H1 phải liên đới trả số tiền 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng) cho bà Võ Thị H và ông Lê Văn S, không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Ngọc H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 26.000.000 đồng. Bà Võ Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/02/2026). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND Khu vực 13 – Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Xuân Ngọc |